Bài giảng thiếu nhi: Chúa Nhật 3 Mùa Chay, Năm A

Thông tin bài giảng
Ngày: Th3 15 2020
Dành cho: Thiếu Nhi
Đăng bởi:
Chuyên đề:
Phụng vụ: Năm A
Diễn thuyết: Giuse Đinh Tất Quý
Bình luận: 0
Tags:
Video: Xem bài giảng
Chia sẻ:
Nội dung

Thiếu nhi chúng con yêu quí,

Chúng con vừa được nghe thánh sử Gioan thuật lại cho chúng ta một câu chuyện thật tuyệt vời.

Đọc xong câu chuyện này cha thấy nó rất phù hợp với Mùa Chay.

Cha đố chúng con biết tại sao cha dám nói thế ?

Mùa Chay là mùa kêu gọi người ta đổi mới cuộc đời và trở về với Chúa.

Cha thấy câu chuyện hôm nay là một cuộc đổi đời và trở về với Chúa rất đẹp, đẹp ngoài sự tưởng tượng của Cha. Câu chuyện này gồm ba bước:

1. Bước đầu tiên biết nhận tội:

Lúc đầu chúng con thấy người đàn bà này là một người hầu như chưa biết Chúa là ai. Thái độ của bà lại rất đanh đá. Bà không muốn tiếp chuyện với Chúa. Chỉ khi Chúa cho bà biết Chúa biết rất rõ về cuộc sống của bà, bà mới chịu nói chuyện.

“Xin cho tôi thứ nước đó để tôi khỏi còn phải ra đây kín nước nữa”

Chúa Giêsu đồng ý với một điều kiện:

“Về gọi chồng chị ra đây”

Khi nói thế Chúa biết bà ta sẽ trả lời thế nào rồi: “Tôi không có chồng”

Đúng là bà không có chồng. Chúa Giêsu biết điều đó và Chúa nói thật với bà “Chị đã có 5 đời chồng và người đang sống với chị không phải là chồng chị”.

Chúng con thấy bà ta phản ứng thế nào ? Bà ta im lặng, hoàn toàn im lặng như vậy là bà ta đã nhận lời Chúa nói là đúng.

Đây là việc đầu tiên của con đường trở về. Phải biết là mình có tội. Không biết nhận ra tội lỗi của mình thì không thể có sự trở về.

Mahatma Gandhi, vị lãnh đạo lừng danh của Ấn Độ, đã kể lại mẩu chuyện của đời ông:

Tôi phạm tội ăn cắp khi lên 15 tuổi Vì mắc nợ, tôi đã lấy trộm chiếc vòng bằng vàng của ba tôi để trả nợ. Nhưng tôi không thể nào chịu được sự ray rứt trong tâm hồn. Dù thế, vì quá mắc cỡ, tôi không thể nào mở miệng nói sự thật với ba tôi

Tôi viết lời thú tội vào một tờ giấy. Toàn thân tôi run rẩy khi tôi trao miếng giấy này cho ba tôi ông đã đọc, nhắm mắt lại một lúc và sau đó xé miếng giấy đi ông khẽ nói và choàng tay ôm tôi “Tốt lắm”.

Từ ngày đó, tôi lại càng yêu ba tôi hơn nữa”.

2. Bước thứ hai: Tin vào Thiên Chúa.

Tới đây thì câu chuyện đã chuyển sang một hướng khác. Khi bà ta thấy Chúa biết rõ về bà như thế thì lập tức bà thay đổi thái độ đối với Chúa: “Quả thật ngài là một ngôn sứ”.

Và kết cuộc thì thật kỳ diệu: Sau khi Chúa chỉ cho bà cách thức để bà có thể tìm gặp được một Thiên Chúa đích thực thì hình ảnh về một đấng Messia mà muôn dân đang mong đợi đã thoáng hiện ra trong tâm trí của bà: “Tôi biết Đấng Messia mà người ta gọi là Ki-tô sẽ đến và khi đến Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”(Ga 4,25)

Chúa Giêsu đã được bà gọi là Đấng Messia. Điều này có nghĩa là gì ? Thưa là bà đã tin vào Chúa Giêsu. Tin vào Chúa đó là bước thứ hai. Bước này cũng rất cần thiết vì có tin thì mới có bước thứ ba, bước cuối cùng.

Có một câu chuyện thật hay, kể về Mc. Leod Campbell, một nhà giảng thuyết người Scotland siêu phàm.

Ngày kia, một người bạn của ông tìm đến với ông, trong tâm trạng bối rối về mặt thiêng liêng:

– Xin anh nói cho tôi nghe làm thế nào mà anh biết rằng anh luôn luôn giữ được Thiên Chúa ?

Nhà giảng thuyết im lặng một lúc lâu, rồi sau đó, ông nói:

– Làm sao mà tôi biết rằng mình luôn luôn giữ được Thiên Chúa! Không phải lúc nào tôi cũng biết được điều đó. Nhưng tôi nhận biết rằng Người luôn luôn gìn giữ tôi!

3. Bước cuối cùng: Làm chứng cho Chúa.

Tới đây thì mọi sự đã thay đổi. Người đàn bà này bỏ vò nước xuống, chạy về thành loan báo cho mọi người rằng: “Ra mà xem một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng Ông đó là Đức Ki-tô!(Ga 4,29)

Một kết quả thật đẹp chúng con. Những người trong thành theo bà ra chỗ bà đã gặp Chúa. Họ đã thấy Chúa và sau khi được gặp Chúa họ đã tin Chúa: “Giờ đây không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là đấng Cứu Thế (Ga 4,42).

Thật quá đẹp chúng con.

Từ một con người tội lỗi, sau khi được giải thoát đã trở thành một người loan báo về Chúa cho những người khác. Từ một người không quen biết Chúa giờ đây đã trở thành người làm chứng để cho nhiều người cũng được biết Chúa: “Giờ đây không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là đấng Cứu Thế. (Ga 4,42)

Chúng ta cũng hãy cầu xin Chúa cho chúng ta cũng biết làm chứng cho tình thương của Chúa khi được biết Chúa, nhất là sau khi được Chúa thứ tha.

Một vua kia có vị thủ tướng rất tài giỏi vì học rộng biết nhiều. Ngày kia vị thủ tướng này trở lại đạo và luôn sống đức tin công giáo của mình trước mặt mọi người. Ngoài ra ông còn hay nói ông tin Đấng cứu thế đã đến thế gian để cứu chuộc loài người. Nhà vua nghe thế nhưng không hiểu. Một hôm kia nhà vua nói ông thủ tướng của mình: “Trẫm là vua, nếu trẫm thi hành điều gì thì chỉ cần truyền lệnh cho thần dân là đủ. Lẽ nào Đức Kitô là vua trên các vua mà lại tự hạ mình xuống thế gian này ? Điều đó rất vô lý!”
Vua muốn cho vị thủ tướng này về vườn, vì thấy ông tin theo Đức Kitô, song vua lại có lòng yêu mến ông nên hứa nếu ông giải nghĩa cho vua hiểu được việc này thì sẽ tha lỗi cho, không cách chức nữa. Vị thủ tướng xin vua cho mình suy nghĩ trong 24 giờ rồi sẽ giải đáp. Ông liền sai một người thợ mộc tài giỏi làm cho ông một tượng gỗ giống y hệt hình hoàng thái tử hai tuổi rồi cũng mặc quần áo giống hoàng thái tử. Ngày hôm sau lúc vua ngự thuyền rồng đi chơi với thủ tướng. Thủ tướng đã bố trí cho người thợ mộc ôm tượng hoàng thái tử đứng sắn ở sông bên kia, hễ xa xa thấy ông ra hiệu thì ném tượng hoàng thái tử xuống sông. Nhà vua đang ngồi trên thuyền chợt thấy tượng gỗ ấy rơi xuống sông, tưởng là con nên không kịp bảo ai, liến nhảy ngay xuống nước, bơi ra để cứu con.

Mọi sự xong xuôi, vị thủ tướng mới hỏi lại vua tại sao không sai một đầy tớ mà phải tự mình nhảy xuống nước làm gì, đến nỗi gần phải chết đuối và ướt hết long bào như thế. Vua trả lời: “Đó là do lòng thương”. Vị thủ tướng liền tâu với nhà vua: “Cũng giống như vậy, Đức Chúa Trời là Đấng Thượng Đế dựng nên thần cũng như muôn người muôn vật, cũng không đành lòng sai ai đem sứ mạng cứu rỗi xuống cho loài người; nhưng vì lòng yêu thương vô hạn, nên Ngài từ bỏ ngôi vinh hiển trên trời giáng xuống trần gian mà cứu chúng ta. Đó cũng là do nơi lòng thương chúng ta vậy!