Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật 4 Phục Sinh, Năm A

Thông tin bài giảng
Ngày: Th5 03 2020
Dành cho: Cộng Đoàn
Đăng bởi:
Chuyên đề:
Phụng vụ: Năm A
Diễn thuyết: Giuse Đinh Tất Quý
Bình luận: 0
Tags:
Video: Xem bài giảng
Chia sẻ:
Nội dung

Anh chị em thân mến,

Chúng ta vừa nghe một đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan. Đây là một trong những đoạn Tin Mừng khó cắt nghĩa. Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa chúng ta đã dùng kiểu nói “Ta Là” để nói về mình. Trong Tin Mừng của Gioan, Chúa dùng tới tám lần như vậy. Chúa nhật hôm nay và Chúa nhật tuần sau chúng ta sẽ suy niệm dựa trên kiểu nói như thế. Hôm nay Chúa tự xưng là cửa: “ Ta là cái cửa” (Ga 10,9). Chúng ta tự hỏi: Chúa có ý muốn nói gì khi Ngài tuyên bố như thế ?.

1. Muốn hiểu được lời tuyên bố của Chúa, thiết tưởng chúng ta phải trở về với hoàn cảnh của lời tuyên bố này. Vậy hoàn cảnh nào Chúa đã tuyên bố như vậy ?

a/ Theo Tin Mừng kể lại thì trước khi tuyên bố như trên Chúa có chữa một người mù từ khi mới sinh.

Lúc đầu khi chữa cho anh ta thì Chúa chưa cho anh ta biết Ngài là ai. Sau khi hòa nước miếng với đất thành bùn sức vào mắt anh ta, Chúa bảo anh đi tới suối Siloe mà rửa. Anh đã làm y như Chúa nói và anh ta đã được sáng mắt.

Sự việc anh ta được sáng mắt đã gây ra nhiều cuộc bàn tán xôn xao. Lúc đầu thì người ta tưởng rằng mọi việc rồi cũng lại đâu vào đó như là những lần khác, nhưng rồi sự việc lại diễn ra không như người ta tưởng. Càng ngày vấn đề càng trở thành nghiêm trọng. Vì công việc Chúa chữa người mù lại xảy ra vào ngày Sabbat. Chính vì thế mà nhà cầm quyền tôn giáo lúc đó đã phải triệu tập một cuộc hội họp bất thường và mở một cuộc điều tra đặc biệt về vấn đề này. Cha mẹ của anh mù được mời tới…rồi sau đó chính người mù được chữa khỏi cũng được mời tới. Cuộc thẩm vấn đã diễn ra một cách hết sức căng thẳng gây cấn vì mỗi bên đều tỏ ra nhất định không khoan nhượng trong lập trường của mình:

b/ Phía những người Biệt phái thì nhất định phủ nhận phép lạ của Chúa Giêsu.

Ngược lại anh mù cũng không kém phần gan dạ. Anh ta tỏ ra can đảm khác thường. Không những anh ta không phủ nhận mà còn can đảm bênh vực cho sự thật. Và kết quả là anh bị trục xuất ra khỏi Hội đường. Đây là một sự trừng phạt của những người có quyền có thế dành cho anh. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi nỗi thất vọng của anh lúc đó như thế nào. Anh ta hoàn toàn không còn một chút tin tưởng gì đối với những người lãnh đạo tôn giáo lúc đó nữa

c/ Nhưng rồi trong cái rủi lại có cái may. Đúng lúc xã hội loài người trục xuất anh, không còn thừa nhận anh là thành phần của cộng đoàn, thì chính lúc đó Chúa lại mở thật rộng bàn tay để đón nhận anh, đưa anh vào một cộng đoàn mới, cộng đoàn của những người tin Chúa. Chính vì thế mà khi vừa hay tin anh bị trục xuất ra khỏi Hội đường thì Chúa đến gặp anh và đúng lúc anh vừa kịp đối diện với Ngài thì Ngài đã hỏi ngay:

“Anh có tin con Thiên Chúa không ?” (Ga 9,35)

Anh thưa lại: “Thưa Ngài, Ngài là ai để tôi tin ?” (Ga 9,36)

Câu nói của anh tràn đầy sự xúc động.

Chúa trả lời: “Anh đang thấy Người và Người đang nói với Anh” (Ga 9,37). Chúng ta không thể tưởng tượng lúc đó anh ngỡ ngàng đến mức độ như thế nào. Anh cứ tưởng Ngài ở đâu thật xa. Có dè đâu Ngài đang ở thật gần. Anh nhìn thẳng vào mắt Chúa. Và tự đáy lòng Anh nói lên niềm tin của Anh: “Lạy Ngài, con tin” và Tin Mừng ghi lại một chi tiết thật cảm động này: “Anh sấp mình xuống phục lạy Ngài” (Ga 9,38)

d/ Qua câu chuyện trên chúng ta có thể thấy được hai bức tranh hầu như hoàn toàn tương phản nhau một cách thật rõ rệt.

Một bên là nhà cầm quyền đạo Do Thái. Họ đã làm một việc hết sức bất nhân đối với người mù vừa được chữa khỏi.

Một bên là Chúa. Giữa lúc người ta trục xuất thì Chúa lại mở rộng vòng tay để đón nhận anh. Ngài đã dẫn anh vào một xã hội mới, xã hội của những người tin Chúa.         Và chính trong hoàn cảnh đó mà Chúa đã tự xưng: “Ta là cái cửa”.(Ga 10,9)

  Cửa là lối vào. Qua Chúa người ta có thể bước vào một xã hội mới.

2/ Ta là cửa chuồng chiên.(Ga 10,7)

a/- Chuồng chiên bên Đông phương là một khu đất rộng, chung quang có tường hoặc rào bao bọc. Không bao giờ có mái che ở trên.

– Thường thì mỗi chuồng chiên chỉ có một cửa duy nhất. Đó là lối ra vào của chiên. Không bao giờ chiên trèo tường hay leo rào để ra.

– Cửa chuồng chiên chỉ là một khoảng cách giữa hai bên bờ tường hay bờ rào. Nó chỉ là một khoảng trống. Nó khác hẳn với hình ảnh về một cái cửa mà chúng ta thường thấy trong xã hội hôm nay.

– Khi Chúa tự ví mình như cái cửa, Chúa đã muốn nói với mọi người về lối vào cho một xã hội mới của Ngài. Xã hội như một đàn chiên. Bất cứ ai muốn gia nhập thì phải qua Ngài. Ngài là cửa dẫn vào đoàn chiên. Không qua Ngài mà vào thì là kẻ cướp.

b/ Nhưng làm thế nào để có thể gọi là “qua Ngài”. Chúng ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh của người mù mới được Chúa chữa khỏi. Khi được sáng mắt chắc là anh đã vui mừng. Nhưng niềm vui của anh chưa được bao lâu thì nó đã biến thành nỗi sầu. Chỉ vì bênh vực cho sự thật mà anh bị loại trừ. Nhưng rất may cho anh, Chúa đã đón nhận anh. Bằng một lời tuyên xưng, anh đã bước vào xã hội mới của Chúa. Vâng đó là cách chúng ta “qua Chúa” để vào xã hội của Chúa. Mỗi người chúng ta đã làm như thế ngày chúng ta được chịu phép Rửa tội. Giờ đây chúng ta đang ở trong xã hội đó. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì hồng ân cao cả này.

3. Tới đây tôi chợt nhớ tới một câu chuyện của hầu tước (Sir) George Adam Smith. Một hôm ông đi du lịch ở đông phương, ông thấy mảnh đất có tường bao quanh như tôi vừa nói. Nhưng ông không dám nghĩ đó là một chuồng chiên. Rất may là lúc đó có một người chăn chiên đang ở gần đó.

Ông hỏi anh ta: “Cái đó có phải là chuồng chiên không ?”.

Người chăn chiên xác nhận: “Dạ phải”.

Ông thắc mắc: “Sao, tôi thấy chỉ có một lối đi vào”

Người chăn chiên giải thích: “Vâng, chỗ đó là cái cửa”

Ông ngạc nhiên thắc mắc tiếp: “Nhưng chỗ đó tôi có thấy cửa đâu ?”

Chẳng cần phải suy nghĩ gì. Người chăn chiên trả lời ngay: “Ta là cái cửa”

Ông càng ngạc nhiên hơn nữa, Ông hỏi tiếp: “Anh muốn nói gì khi anh bảo anh là cái cửa ?”

Người chăn chiên đáp: “Khi chiên vào chuồng rồi thì tôi đến nằm ngang chỗ đó. Không một con chiên nào có thể đi ra và cũng không một con sói nào có thể đi vào mà không phải qua con người của tôi”.

Hay quá chúng con. Người mục tử là như thế. Chúng ta hãy cầu nguyện để Chúa cũng ban cho Giáo Hội có được những mục tử tốt như thế để lo cho đoàn chiên chúng ta.

Năm 1870 chính phủ Hawai ra lệnh bắt những người mắc bệnh phong hủi, phải ở riêng biệt tại cù lao Molokai, mà tàu của chính phủ mỗi tuần chỉ tiếp tế cho một lần. Ở đó, thiếu thuốc thang, thiếu săn sóc, nhất là thiếu an ủi và nâng đỡ về phương diện tôn giáo. Nghe tin này, được lòng mến Chúa thúc đẩy, cha Damien dòng Thánh Tâm người nước Bỉ, đã tình nguyện xin Đức Giám mục giáo phận cho phép mình được ra sống chung với những người xấu số đó. thấy đức giám mục lưỡng lự, cha Damien đã quì xuống đất thưa rằng:

– Thân đức cha, mặc dầu con còn trẻ, nhưng khi mặc chiếc áo dòng đen nhà tu, con đã trở nên những người của Chúa, con đã sẵn sàng chết cho các linh hồn theo gương Chúa Giêsu. Vậy sau khi được phép Đức Giám mục giáo phận, cha Damien đã đến sống chung với anh em phong hủi. Cha đã sống với họ 16 năm: ra vào thăm nom, tập cho họ nghề nghiệp, dạy họ đọc và chữ viết, rửa tội, giải tội, xức dầu thánh. Do đó cha đã lây bệnh. Bác sĩ Woons viết rằng: cha Damien đã khác hẳn mười năm trước đây, mặt mũi rộp và sưng lên, hai tay dày cộm và xệ xuống, các ngón tay đang lần lượt co quắp lại… cha đã trở nên giống các con chiên của cha: da trán sưng lên ghê tởm; hai tai phồng ra to; mũi, má, cổ tay đều bị hủi ăn đỏ hoẻn. Đây là vị linh mục công giáo đang sống ở địa ngục phong cùi, giữa những người đang sống dở, chết dở, để đem lại cho họ một đôi chút an ủi. Sau 16 năm sống trong hy sinh và bệnh nạn, cha Damien bị những vi trùng cùi đêm ngày tấn công, và sau hết phải ngã gục và chết giữa con chiên (3,98)

Vậy cha Damien đã chết giữa những con chiên mắc bệnh phong cùi của cha, để một phần nào bắt chước gương Chúa đã được ghi trong bài phúc âm hôm nay: “Cha là mục tử tốt lành đã liều mạng sống vì con chiên”. Nghĩa là Chúa đã chịu chết trên thánh giá để chuộc tội loài người cách riêng là cho anh chị em chúng ta. đọc lại bài phúc âm này, Chúa cũng dạy chúng ta, nếu chưa dám hy sinh mạng sống vì người khác, thì chúng ta cũng cố gắng giúp đỡ người khác trong những việc nhỏ mọn, nhiều chừng nào, tốt chừng nấy.

Xin Chúa cho chúng ta được tìm thấy hạnh phúc khi chúng ta được ở trong Giáo Hội tức là đoàn chiên của Chúa. Trong Giáo Hội chúng ta có Chúa bảo vệ chúng ta. Trong Giáo Hội, bằng các Bí Tích Chúa lo lắng cho chúng ta. Cũng chính trong Giáo Hội mà chúng ta nhận được lương thực hằng sống là Mình và Máu Thánh Chúa hằng ngày. Amen.