Tag Archive for: Ga

23/03 – Thứ Hai tuần 5 mùa Chay năm A.

“Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi”.

Lời Chúa: Ga 8, 1-11

Khi ấy, Chúa Giêsu lên núi cây dầu. Và từ sáng sớm, Người lại vào trong đền thờ. Toàn dân đến cùng Người, nên Người ngồi xuống và bắt đầu giảng dạy. Lúc đó, luật sĩ và biệt phái dẫn đến Người một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, và họ đặt nàng đứng trước mặt mọi người. Họ hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, thiếu phụ này bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, mà theo luật Môsê, hạng phụ nữ này phải bị ném đá. Còn Thầy, Thầy dạy sao?” Họ nói thế có ý gài bẫy Người để có thể tố cáo Người. Nhưng Chúa Giêsu cúi xuống, bắt đầu lấy ngón tay viết trên đất.

Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người đứng lên và bảo họ: “Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi”. Và Người ngồi xuống và lại viết trên đất.

Nghe nói thế họ rút lui từng người một, bắt đầu là những người nhiều tuổi nhất, và còn lại một mình Chúa Giêsu với người thiếu phụ vẫn đứng đó.

Bấy giờ Chúa Giêsu đứng thẳng dậy và bảo nàng: “Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả rồi? Không ai kết án chị ư?” Nàng đáp: “Thưa Thầy, không có ai”. Chúa Giêsu bảo: “Ta cũng thế, Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”.

Suy nim: Người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình đứng ở giữa đám đông, như trong một phiên tòa, chờ đợi bản án tử hình. Chị tuyệt vọng, chẳng ai có thể giúp chị thoát khỏi hình phạt ném đá. Mọi người, tay lăm lăm hòn đá, chờ đợi phán quyết của Đức Giê-su, nhưng Ngài vẫn im lặng. Khoảng lặng ấy đủ “lặng” để mỗi người đối diện với lời thách đố của Chúa: “Ai trong các ông sch ti, thì c vic ly đá mà ném trước đi.” Đó không phải là lời kết án, mà kêu gọi xét lại bản thân mình. Điều ác vẫn là điều ác, tội lỗi vẫn là tội lỗi, nhưng quyền kết án là thuộc về Thiên Chúa, Đấng vô tội. Thay vì ném đá, mọi người lần lượt thả nhẹ hòn đá xuống đất, cảm nhận mình cũng là kẻ tội lỗi, cần ơn tha thứ.

Mi Bn: Chúng ta dễ dàng ‘ném đá trên mạng.’ Bạn có ý thức mình đang nắm trên tay hòn đá của quan điểm, óc địa phương, hay bạn đang cố gắng phục hồi danh dự, đem lại niềm hy vọng cho người khác? Cuộc đời người phụ nữ ấy thay đổi nhờ sự tha thứ. Có lẽ từ đó, chị học được cách tha thứ, chị có cái nhìn khác về những con người đã tố cáo chị, bởi qua những người cứng nhắc và độc ác ấy, chị đã được gặp Chúa Giê-su. “Chúng ta hãy dn thân để các cng đoàn tr nên tiếng kêu ca người đau kh được đón nhn, và vic lng nghe làm ny sinh nhng con đường gii phóng, giúp ta sn sàng và ân cn hơn trong vic góp phn xây dng nn văn minh tình thương” (Đức Lêô XIV).

Sng Li Chúa: Học cách cân nhắc lời nói và nuôi dưỡng sự hiền hòa.

Cu nguyn: Ly Chúa, xin cho con không mi mt khi sng khoan dung, tha th và hc biết th tha. Amen.

22/03 – CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY năm A

“Ta là sự sống lại và là sự sống”.

Lời Chúa: Ga 11, 1-45

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, có một người đau liệt tên là Ladarô, ở Bêtania, làng quê của Maria và Martha. (Maria này chính là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Em trai bà là Ladarô lâm bệnh). Vậy hai chị sai người đến thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, người Thầy yêu đau liệt”. Nghe tin ấy, Chúa Giêsu liền bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó Con Thiên Chúa sẽ được vinh hiển”. Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Ladarô. Khi hay tin ông này đau liệt, Người còn lưu lại đó hai ngày.

Rồi Người bảo môn đệ: “Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa”. Môn đệ thưa: “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm ném đá Thầy, mà Thầy lại trở về đó ư?” Chúa Giêsu đáp: “Một ngày lại chẳng có mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì người ta thấy ánh sáng mặt trời; nhưng kẻ đi ban đêm sẽ vấp ngã vì không có ánh sáng”. Người nói thế, rồi lại bảo họ: “Ladarô bạn chúng ta đang ngủ, dầu vậy Ta đi đánh thức ông”. Môn đệ thưa: “Thưa Thầy, nếu ông ta ngủ, ông sẽ khoẻ lại”. Chúa Giêsu có ý nói về cái chết của Ladarô, nhưng môn đệ lại nghĩ Người nói về giấc ngủ. Bấy giờ Chúa Giêsu mới nói rõ: “Ladarô đã chết. Nhưng Ta mừng cho các con, vì Ta không có mặt ở đó để các con tin. Vậy chúng ta hãy đi đến nhà ông”. Lúc đó Tôma, cũng có tên là Ðiđimô, nói với đồng bạn: “Chúng ta cũng đi để cùng chết với Người”.

Ðến nơi, Chúa Giêsu thấy Ladarô đã được an táng bốn ngày rồi. (Bêtania chỉ cách Giêrusalem chừng mười lăm dặm). Nhiều người Do-thái đến nhà Martha và Maria để an ủi hai bà vì người em đã chết. Khi hay tin Chúa Giêsu đến, Martha đi đón Người, còn Maria vẫn ngồi nhà. Martha thưa Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy”. Chúa Giêsu nói: “Em con sẽ sống lại”. Martha thưa: “Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, thì em con sẽ sống lại”. Chúa Giêsu nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?” Bà thưa: “Thưa Thầy, vâng, con đã tin Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian”.

Nói xong bà về gọi Maria em gái bà và nói thầm với em rằng: “Thầy ở ngoài kia, Thầy gọi em”. Nghe vậy, Maria vội vàng đứng dậy và đi đến cùng Chúa. Vì lúc đó Chúa Giêsu chưa vào trong làng, Người còn đang đứng ở nơi Martha đã gặp Người. Những người Do-thái cùng ở trong nhà với Maria và an ủi bà, khi thấy bà vội vã đứng dậy ra đi, họ cũng đi theo bà, tưởng rằng bà đi ra khóc ngoài mộ.

Vậy khi Maria đến chỗ Chúa Giêsu đứng, thấy Người, bà liền sấp mình xuống dưới chân Người và nói: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt đây, thì em con không chết”. Khi thấy bà khóc nức nở và những người Do-thái theo bà cũng khóc, Chúa Giêsu thổn thức và xúc động. Người hỏi: “Ðã an táng Ladarô ở đâu?” Họ thưa: “Thưa Thầy, xin đến mà xem”.

Chúa Giêsu rơi lệ. Người Do-thái liền nói: “Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết bao!” Nhưng có mấy kẻ trong đám nói: “Ông ấy đã mở mắt người mù từ khi mới sinh mà không làm được cho người này khỏi chết ư?” Chúa Giêsu lại xúc động; Người đi đến mộ. Mộ đó là một hang nhỏ có tảng đá đậy trên. Chúa Giêsu bảo: “Hãy đẩy tảng đá ra”. Martha là chị người chết, thưa: “Thưa Thầy, đã nặng mùi rồi vì đã bốn ngày”. Chúa Giêsu lại nói: “Ta đã chẳng bảo con rằng: Nếu con tin, thì con sẽ xem thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” Thế là người ta cất tảng đá ra.

Chúa Giêsu ngước nhìn lên và nói: “Lạy Cha, Con cảm tạ Cha đã nhậm lời Con. Con biết Cha hằng nghe lời Con, nhưng Con nói lên vì những người đứng xung quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con”. Nói rồi, Người kêu lớn tiếng: “Ladarô! Hãy ra đây!” Người đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải, trên mặt quấn khăn liệm. Chúa Giêsu bảo: “Hãy cởi ra cho anh ấy đi”.

Một số người Do-thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, thì đã tin vào Người.

Suy nim: Đối với con người, một khi lưỡi hái tử thần đã buông xuống, thì tài giỏi như Cesar, quyền lực như Tần Thủy Hoàng, đẹp như Cléopâtre cũng đành nhắm mắt trở về với cát bụi. Thế nhưng, có một người đã dám chống lại Tử Thần và đã chiến thắng. Đó là Đức Ki-tô, Ngài đã chết và đã Phục Sinh. Và tiếp bước theo Người, những người Ki-tô hữu cũng sẽ sống lại như thế. Nhờ vào đâu vậy? Thưa, nhờ tin và chịu phép ra trong Đức Ki-tô, nghĩa là “cùng được mai táng vi Đức Ki-tô khi chu phép ra, li cùng được tri dy vi Người (Cl 2,12). Tất cả niềm tin, niềm hy vọng của người Ki-tô hữu được đặt trên nền tảng Phục Sinh này.

Mi Bn: Hành trình đức tin của cô Mác-ta vào Đức Ki-tô Phục Sinh cho thấy sự Phục Sinh không phải là cái gì bên kia cái chết, nhưng đang có mặt ngay tại đây, hôm nay và mọi ngày, nơi mỗi tâm hồn đón nhận và tin kính Ngài như Mác-ta, và Chúa không ngừng hỏi bạn như đã hỏi cô Mác-ta: “Con có tin điu đó không? Bạn đã trả lời Ngài thế nào? Niềm tin vào Đức Ki-tô Phục Sinh có là động lực thúc đẩy bạn dấn bước theo Chúa triệt để hơn không?

Sng Li Chúa: Tôi sẽ hướng mọi việc mình làm, mọi sự kiện cuộc sống mình về mầu nhiệm phục sinh.

Cu nguyn: Ly Chúa, màu tím ca mùa Chay là màu ca bun thương và sám hi. Nhiu khi con cm thy ht hng, ti tăm trong đời, nht là khi đối din vi cái chết ca nhng người thân. Xin cho màu trng Phc Sinh giúp con can đảm trung thành sng theo nhng gì Mùa Chay đòi hi, để cũng được phc sinh vi Chúa. Amen.

21/03 – Thứ Bảy tuần 4 Mùa Chay.

“Ðấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao?”

Lời Chúa: Ga 7, 40-53

Khi ấy, sau khi nghe Chúa Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng nói rằng: “Ông này thật là tiên tri”. Kẻ khác nói: “Ông này thật là Ðấng Kitô”. Người khác nữa lại nói: “Ðấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh Thánh chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân bởi dòng dõi Ðavit, và từ làng Bêlem, quê hương của Ðavit?”

Vì thế, dân chúng bất đồng ý kiến với nhau về Người. Trong số đó, có một ít kẻ định bắt Người, nhưng không ai dám ra tay bắt Người.

Vậy khi những người thừa hành đến với thượng tế và biệt phái, các ông này hỏi họ rằng: “Tại sao các ngươi không điệu nó tới?” Các người thừa hành thưa rằng: “Chẳng hề có ai nói như người ấy”. Các người biệt phái trả lời rằng: “Chớ thì các ngươi cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong các vị thủ lãnh và các người biệt phái, có ai tin nó đâu? Chỉ có lũ khốn nạn đó nó không biết gì lề luật”.

Nicôđêmô là người đã tới gặp Chúa Giêsu ban đêm, cũng là người trong nhóm họ, nói với họ rằng: “Chớ thì luật của chúng ta có lên án cho ai mà không nghe họ, hoặc không biết rõ họ làm gì không?” Nhưng họ trả lời rằng: “Hay ông cũng là người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy rằng không có tiên tri nào phát xuất từ Galilêa”. Sau đó ai về nhà nấy.

Suy nim: Nghe lời giảng dạy của Chúa Giê-su, chứng kiến các phép lạ Ngài làm, người Do-thái ngày ấy có những lập trường trái chiều. Đông đảo dân chúng theo lương tri nhận ra Ngài là ngôn sứ, như các vệ binh Đền thờ: “Xưa nay chưa h đã có ai nói năng như người y! Ngược lại, có những người như nhóm Pha-ri-sêu, các thượng tế, lại phủ nhận tính thiên sai của Đức Giê-su và quyết tâm giết chết Ngài. Trong bầu khí đầy thù hận ấy lại có một người – ông Ni-cô-đê-mô, người đã đến gặp Chúa Giê-su ban đêm – can đảm đứng lên bênh vực cho lẽ phải bất chấp sự cười nhạo của những đồng sự trong Thượng Hội Đồng: “C ông na, ông cũng là người Ga-li-lê sao? Ông Ni-cô-đê-mô đã dùng chính Lề luật của người Do-thái để bênh vực cho lẽ phải: “L lut ca chúng ta có cho phép kết án ai trước khi nghe người y và biết người y làm gì không?

Mi Bn: Định kiến và óc thiên vị thật nguy hiểm vì dẫn đến phán đoán sai lầm và kéo theo bao hậu quả tai hại không thể sửa chữa. Phải loại trừ lòng ghen ghét và tính kiêu căng là gốc rễ dẫn đến định kiến và kết án sai lầm. Khi đó, việc áp dụng nguyên tắc mà Ni-cô-đê-mô đưa ra: “nghe người y và biết người y làm gì” mới đưa ta đến phán đoán khách quan, dựa trên sự thật.

Sng Li Chúa: Tâm niệm câu lời Chúa: Đừng xét đoán để khi b Thiên Chúa xét đoán (Mt 7,1).

Cu nguyn: Ly Chúa, xin tha th vì biết bao ln con h đồ trong vic kết án người anh em. Trong mùa Chay này, xin giúp con sng bác ái trong suy nghĩ cũng như trong phán đoán đối vi anh ch em mà con thường gp g. Amen.

20/03 – Thứ Sáu tuần 4 Mùa Chay.

“Chúng tìm cách bắt Người, nhưng chưa tới giờ Người”.

Lời Chúa: Ga 7, 1-2. 10. 25-30

Khi ấy, Chúa Giêsu đi lại trong xứ Galilêa; Người không muốn đi lại trong xứ Giuđêa, vì người Do-thái đang tìm giết Người. Lúc đó gần đến lễ Trại của người Do-thái. Nhưng khi anh em của Người lên dự lễ rồi, thì Người cũng đi, nhưng không đi cách công khai, mà lại đi cách kín đáo.

Có một số người ở Giêrusalem nói: “Ðây không phải là người họ đang tìm giết sao? Kìa ông ta đang nói công khai mà không ai nói gì cả. Phải chăng các nhà chức trách đã nhận ra ông ta là Ðấng Kitô? Tuy nhiên, ông này thì chúng ta biết rõ đã xuất thân từ đâu. Còn khi Ðấng Kitô tới, thì chẳng có ai biết Người bởi đâu”.

Vậy lúc bấy giờ Chúa Giêsu đang giảng dạy trong đền thờ, Người lớn tiếng nói rằng: “Phải, các ngươi biết Ta, và biết Ta xuất thân từ đâu; Ta không tự Ta mà đến, nhưng thực ra, có Ðấng đã sai Ta mà các ngươi không biết Ngài. Riêng Ta, Ta biết Ngài, vì Ta bởi Ngài, và chính Ngài đã sai Ta”. Bởi thế họ tìm cách bắt Chúa Giêsu, nhưng không ai đụng tới Người, vì chưa tới giờ Người.

Suy nim: Từ chìa khóa trong đoạn Tin Mừng này là động từ “biết” được lặp lại cả thảy sáu lần. Trong Thánh Kinh, động từ biết vừa có nghĩa là hiểu biết, nhận thức của lý trí, đồng thời, còn có nghĩa là kết hiệp, thông hiệp nên một, như đôi vợ chồng “Mình vi ta tuy hai mà mt, ta vi mình tuy mt mà hai”, như khi nói “A-đam biết E-va v mình, và bà mang thai” (Kn 4,1). Những người Pha-ri-sêu, luật sĩ tưởng mình biết Đức Ki-tô, nhưng sự hiểu biết của họ hạn hẹp ở nghĩa thông thường, chưa kể là họ biết sai về Chúa nữa. Chúa Giê-su nhắm đến nghĩa sâu xa của cái biết khi nói: “Phn tôi, tôi biết Chúa Cha, bi vì tôi t nơi Người mà đến, và chính Người đã sai tôi”.

Mi Bn: Chúng ta có khi tự hào rằng mình đã biết Chúa nhiều; trong khi thật ra, sự hiểu biết của chúng ta về Chúa còn hời hợt, nông cạn, và có khi hiểu sai nữa là đàng khác nữa. Mùa Chay là ‘nhịp mạnh’ của đời ki-tô hữu để ta đào sâu hơn sự hiểu biết Chúa, từ lý trí đến ý chí: từ nhận biết đến yêu mến, và để ta kết hiệp nên một với Chúa bằng một tình yêu nồng nàn hơn, cao độ hơn.

Chia s: Bạn đã làm gì để tìm hiểu về giáo lý, Thánh Kinh và những kiến thức đó giúp bạn hoán cải cuộc sống thế nào?

Sng Li Chúa: Để biết Chúa hơn, mến Chúa hơn, hôm nay tôi nghe, đọc, suy niệm Lời Chúa và kết hiệp với Chúa Giê-su Thánh Thể với sự chú ý cầm trí và tâm tình sốt sắng.

Cu nguyn: “Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con. Biết Chúa để con yêu mến Chúa… (Th Augustinô). Xin cho s hiu biết đưa con đến ch yêu mến, gn bó vi Chúa nhiu hơn, nht là trong Tun Thương Khó sp đến. Amen.

18/03 – Thứ Tư tuần 4 Mùa Chay.

“Chúa Cha cho người chết sống lại và làm cho họ sống thế nào, thì Chúa Con cũng vậy, Người làm cho ai sống là tuỳ ý Người”.

Lời Chúa: Ga 5, 17-30

Khi ấy, Chúa Giêsu trả lời dân Do-thái rằng: “Cha Ta làm việc liên lỉ, Ta cũng làm việc như vậy”. Bởi thế, người Do-thái càng tìm cách giết Người, vì không những Người đã phạm luật nghỉ ngày Sabbat, lại còn gọi Thiên Chúa là Cha mình, coi mình ngang hàng với Thiên Chúa. Vì thế, Chúa Giêsu trả lời họ rằng:

“Quả thật, quả thật, Ta nói cho các ngươi biết: Chúa Con không thể tự mình làm gì nếu không thấy Chúa Cha làm. Ðiều gì Chúa Cha làm, thì Chúa Con cũng làm y như vậy. Vì chưng, Chúa Cha yêu Chúa Con và bày tỏ cho Chúa Con biết mọi việc mình làm, và sẽ còn bày tỏ những việc lớn lao hơn thế nữa, đến nỗi các ngươi sẽ phải thán phục.

Bởi vì, cũng như Chúa Cha cho người chết sống lại và làm cho họ sống thế nào, thì Chúa Con cũng vậy, Ngài làm cho ai sống là tuỳ ý Ngài. Vì hơn nữa, Chúa Cha không xét xử ai cả, mà trao cho Chúa Con trọn quyền xét xử, để cho mọi người tôn trọng Chúa Con cũng như tôn trọng Chúa Cha: ai không tôn trọng Chúa Con thì không tôn trọng Chúa Cha, Ðấng đã sai Ngài.

Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Ai nghe lời Ta và tin Ðấng đã sai Ta, thì được sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng được từ cõi chết mà qua cõi sống.

Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi, vì đến giờ và ngay bây giờ, kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa, và ai đã nghe thì sẽ được sống. Cũng như Chúa Cha có sự sống nơi chính mình thế nào, thì Người cũng cho Chúa Con có sự sống nơi mình như vậy, và Người đã ban cho Chúa Con quyền xét xử, vì Ngài là Con Người. Các ngươi đừng ngạc nhiên về điều này, vì đến giờ mọi kẻ trong mồ sẽ nghe tiếng Con Thiên Chúa và ra khỏi mồ; kẻ đã làm việc lành thì sống lại để được sống, còn kẻ đã làm việc dữ thì sống lại để bị xét xử.

Ta không thể tự mình làm điều gì. Nghe sao, Ta xét xử vậy.

Và án Ta xử thì công minh, vì Ta không tìm ý riêng Ta, mà tìm ý Ðấng đã sai Ta”.

Suy nim: Một người được cha mình khen là con ngoan khi người con đó tôn kính vâng lời và hoàn thành tâm nguyện của cha mình. Trong Phúc Âm, hai lần Chúa Cha mặc khải rõ ràng Đức Giê-su là Con yêu dấu và đẹp lòng Chúa Cha (x. Lc 3,22; Mc 9,7) vì Ngài luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha, “vâng li cho đến ni bng lòng chu chết, chết trên cây thp t (Pl 2,8) để hoàn thành ý muốn của Chúa Cha là cứu độ nhân loại. Hôm nay, khi người Do-thái chất vấn Ngài “vì Ngài cha bnh trong ngày Sa-bát, Đức Giê-su xác quyết lại điều đó: “Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi”. Khi quả quyết như vậy, Chúa Giê-su đã mặc khải mối liên hệ thân thiết giữa Ngài với Chúa Cha. Chúa Cha làm việc, thì Ngài cũng làm việc, làm việc mà Chúa Cha giao phó.

Mi Bn: Nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta được trở thành nghĩa tử của Chúa. Đã là con cái Thiên Chúa, chúng ta noi theo Đức Giê-su, Người Con chí ái của Chúa Cha, lấy thánh ý Chúa làm lẽ sống của mình, như Ngài đã nói: “Lương thc ca Thy là thi hành ý mun ca Đấng đã sai Thy và hoàn tt công trình ca Người (Ga 4,34). Mùa Chay là thời gian thuận tiện để học theo Đức Giê-su từ bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa, đặc biệt chiêm ngắm Đức Ki-tô vâng phục trong cuộc Thương Khó của Ngài.

Sng Li Chúa: Khi làm việc gì, bạn cầu xin cho ý Chúa được thực hiện.

Cu nguyn: Ly Chúa, xin giúp chúng con sáng sut nhn ra thánh ý Chúa và cho chúng con ơn can đảm vâng phc ý Chúa trong mi vic gia dòng đời xuôi ngược ca chúng con. Amen.

17/03 – Thứ Ba tuần 4 Mùa Chay.

“Tức khắc người ấy được lành bệnh”.

Lời Chúa: Ga 5, 1-3a. 5-16

Hôm đó là ngày lễ của người Do-thái, Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Tại Giêrusalem, gần cửa “Chiên”, có một cái hồ, tiếng Do-thái gọi là Bếtsaiđa, chung quanh có năm hành lang. Trong các hành lang này, có rất nhiều người đau yếu, mù loà, què quặt, bất toại nằm la liệt. Trong số đó, có một người nằm đau liệt đã ba mươi tám năm.

Khi Chúa Giêsu thấy người ấy nằm đó và biết anh đã đau từ lâu, liền hỏi: “Anh muốn được lành bệnh không?” Người đó thưa: “Thưa Ngài, tôi không được ai đem xuống hồ, mỗi khi nước động. Khi tôi lết tới, thì có người xuống trước tôi rồi”. Chúa Giêsu nói: “Anh hãy đứng dậy vác chõng mà về”. Tức khắc người ấy được lành bệnh. Anh ta vác chõng và đi. Nhưng hôm đó lại là ngày Sabbat, nên người Do-thái bảo người vừa được khỏi bệnh rằng: “Hôm nay là ngày Sabbat, anh không được phép vác chõng”. Anh ta trả lời: “Chính người chữa tôi lành bệnh bảo tôi: “Vác chõng mà đi”. Họ hỏi: “Ai là người đã bảo anh “Vác chõng mà đi?” Nhưng kẻ đã được chữa lành không biết Người là ai, vì Chúa Giêsu đã lánh vào đám đông tụ tập nơi đó.

Sau đó, Chúa Giêsu gặp anh ta trong đền thờ, Người nói: “Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước”. Anh ta đi nói cho người Do-thái biết chính Chúa Giêsu là người đã chữa anh ta lành bệnh.

Vì thế người Do-thái gây sự với Chúa Giêsu, vì Người đã làm như thế trong ngày Sabbat.

Suy nim: Dọc theo năm hành lang bên bờ hồ Bết-da-tha, những người đau ốm đủ mọi chứng bệnh nằm la liệt chờ xuống nước trước tiên mỗi khi nước động để được chữa lành. “Có mt người đau m tuy không bị bại liệt, nhưng anh ta nằm đó đã 38 năm rồi. Dường như anh bị mọi người bỏ rơi, không có ai giúp đưa anh xuống hồ, mà chính anh cũng không có phương thế nào để tự cứu lấy mình. Thế là anh cam chịu nằm đó trong vô vọng. May thay, Đức Giê-su nhìn thấy anh và Ngài đã chữa lành anh. Nhưng sau đó Chúa gặp lại và nhắc nhở anh kèm theo lời cảnh báo đáng sợ: Đừng phm ti na, ko li phi khn hơn trước!

Mi Bn: Lời nhắc nhở của Chúa tiết lộ cho chúng ta nhiều điều đáng lưu ý. Trước hết căn bệnh của anh hẳn là có nguồn gốc từ tội lỗi. Tình trạng ở lì trong tội lâu ngày khiến người ta mất niềm hy vọng, và do đó không muốn đứng lên, chừa bỏ tội lỗi nữa. Chúa nói Đừng phm ti na! là Ngài muốn chữa tận căn, không chỉ bệnh tật thể xác mà còn chữa lành tâm hồn. Mùa Chay là thời gian thuận tiện để ta hối cải. Mệnh lệnh của Chúa “Hãy tri dy vác chõng mà đi! nói lên lời mời gọi cộng tác với ơn Chúa để hoán cải, quyết tâm làm lại một khởi đầu mới.

Sng Li Chúa: Đi thăm hỏi một người già hay một người ốm đau, nhất là người anh em nguội lạnh.

Cu nguyn: Ly Chúa, xin cha lành s tê lit trong tâm hn chúng con. Và xin giúp chúng con quan tâm giúp thp lên nim hy vng cho nhng anh ch em đang phi bun su tht vng. Amen.

16/03 – Thứ Hai tuần 4 Mùa Chay.

“Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi”.

Lời Chúa: Ga 4, 43-54

Khi ấy, Chúa Giêsu bỏ Samaria mà đến Galilêa. Chính Người đã nói: “Không vị tiên tri nào được kính nể nơi quê hương mình”. Khi Người đến Galilêa, dân chúng ra đón tiếp Người: Họ đã chứng kiến tất cả các việc Người làm ở Giêrusalem trong dịp lễ; vì họ cũng đi dự lễ.

Người trở lại Cana xứ Galilêa, nơi Người đã biến nước thành rượu. Bấy giờ có một quan chức nhà vua ở Capharnaum có người con trai đang đau liệt. Ðược tin Chúa Giêsu đã bỏ Giuđêa đến Galilêa, ông đến tìm Người và xin Người xuống chữa con ông sắp chết. Chúa Giêsu bảo ông: “Nếu các ông không thấy những phép lạ và những việc phi thường, hẳn các ông sẽ không tin”. Viên quan chức trình lại Người: “Thưa Ngài, xin Ngài xuống trước khi con tôi chết”. Chúa Giêsu bảo ông: “Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi”. Ông tin lời Chúa Giêsu nói và trở về.

Khi xuống đến sườn đồi thì gặp gia nhân đến đón, báo tin cho ông biết con ông đã mạnh. Ông hỏi giờ con ông được khỏi. Họ thưa: “Hôm qua lúc bảy giờ cậu hết sốt”.

Người cha nhận ra là đúng giờ đó Chúa Giêsu bảo ông: “Con ông mạnh rồi”, nên ông và toàn thể gia quyến ông đều tin.

Ðó là phép lạ thứ hai Chúa Giêsu đã làm khi Người ở Giuđêa về Galilêa.

Suy nim: Viên quan cận vệ của nhà vua có đứa con sắp chết, ông đến với Đức Giê-su, kêu nài Ngài xuống nhà ông cứu chữa con ông. Ông muốn một bảo đảm rõ ràng và chắc chắn: Chúa phải có mặt tận nơi, ông mới yên tâm. Nhưng Đức Giê-su chỉ nói một câu: Ông c v đi, con ông sng đó. Không dấu chỉ, không lời giải thích, không có cam kết theo kiểu con người. Nhưng phép lạ đã bắt đầu khi “ông tin li Chúa và ra đi. Dấu chỉ phép lạ sau đó mới được xác minh: Con ông khỏi bệnh vào đúng giờ Chúa nói với ông: “Con  ông sng đó. Và phép lạ không dừng lại ở đó. Không chỉ đứa con được chữa lành, mà “ông và c gia đình ông đều tin vào Chúa.

Mi Bn: Tổ phụ Áp-ra-ham “Nh đức tin, đã vâng nghe tiếng Chúa gi mà ra đi ra đi mà không biết mình đi đâu (Hr 11,8). Cũng thế, đừng đợi đến khi thấy mọi sự ‘nhãn tiền’ mới tin. Đức tin của bạn chỉ là thật khi bạn không thấy dấu hiệu gì, không có chỗ dựa hay bảo đảm chắc chắn nào, bạn cũng vẫn bước đi theo lời Chúa hứa; dù rằng vẫn còn đó những hoài nghi, nhưng bạn vẫn luôn bước tới không quay đầu hay dừng bước. Chính đức tin ấy mở đường cho phép lạ.

Sng Li Chúa: Hôm nay, tôi sẽ chọn làm một hành động nhỏ vì đức tin: cầu nguyện thêm, chủ động làm hòa, kiên nhẫn với người thân, hoặc giữ bình an trước một tin xấu, và thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con tin vào Lời Ngài”.

Cu nguyn: Ly Chúa Giê-su, Chúa đã nói: Phúc cho ai không thy mà tin. Xin cng c đức tin yếu đui ca con, để con biết bám vào Li Chúa hơn là du l. Xin cho con can đảm ra đi trong phó thác, kiên trì và hy vng gia nhng th thách đời thường. Amen.

15/03 – CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY năm A

“Hắn đi rửa, rồi trở lại trông thấy rõ”.

Lời Chúa: Ga 9, 1-41

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Môn đệ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội, anh này hay cha mẹ anh, khiến anh mù từ khi mới sinh?”

Chúa Giêsu đáp: “Không phải anh cũng chẳng phải cha mẹ anh đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi anh. Bao lâu còn ban ngày, Ta phải làm những việc của Ðấng đã sai Ta. Ðêm đến không ai có thể làm việc được nữa. Bao lâu Ta còn ở thế gian, Ta là sự sáng thế gian”.

Nói xong, Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôê mà rửa” (chữ Silôê có nghĩa là được sai). Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được. Những người láng giềng và những kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Ðó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Ðúng hắn!” Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”. Họ hỏi anh: “Làm thế nào mắt anh được sáng?” Anh ta nói: “Người mà thiên hạ gọi là Giêsu đã làm bùn xức mắt tôi và bảo: Ngươi hãy đến hồ Silôê mà rửa. Bấy giờ tôi đi, tôi rửa và tôi trông thấy”. Họ lại hỏi: “Ngài ở đâu?” Anh thưa: “Tôi không biết”.

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt? Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Mấy kẻ khác lại rằng: “Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ thể ấy?” Họ bất đồng ý kiến với nhau.

Họ liền quay lại hỏi người mù lần nữa: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh đáp: “Ðó là một tiên tri”. Nhưng người Do-thái không muốn tin anh đã mù và đã được khỏi trước khi đòi cha mẹ anh đến. Họ hỏi hai ông bà: “Người này có phải là con hai ông bà mà ông bà bảo bị mù từ khi mới sinh không? Do đâu mà bây giờ nó lại trông thấy?” Cha mẹ y thưa rằng: “Chúng tôi xác nhận đây chính là con chúng tôi, và nó đã bị mù từ khi mới sinh. Nhưng làm sao mà bây giờ nó trông thấy, và ai đã mở mắt cho nó thì chúng tôi không biết. Nó khôn lớn rồi, các ông hãy hỏi nó, nó sẽ tự thưa lấy”. Cha mẹ anh ta nói thế bởi sợ người Do-thái, vì người Do-thái đã bàn định trục xuất khỏi hội đường bất cứ ai dám công nhận Chúa Giêsu là Ðấng Kitô. Chính vì lý do này mà cha mẹ anh ta nói: “Nó khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó”.

Lúc ấy người Do-thái lại gọi người trước kia đã mù đến và bảo: “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa! Phần chúng ta, chúng ta biết người đó là một kẻ tội lỗi”. Anh ta trả lời: “Nếu đó là một người tội lỗi, tôi không biết; tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi mù và bây giờ tôi trông thấy”. Họ hỏi anh: “Người đó đã làm gì cho anh? Người đó đã mở mắt anh thế nào?” Anh thưa: “Tôi đã nói và các ông đã nghe, các ông còn muốn nghe gì nữa? Hay là các ông cũng muốn làm môn đệ Ngài chăng?” Họ liền nguyền rủa anh ta và bảo: “Mày hãy làm môn đệ của người đó đi, còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của Môsê. Chúng ta biết Thiên Chúa đã nói với Môsê, còn người đó chúng ta không biết bởi đâu mà đến”. Anh đáp: “Ðó mới thật là điều lạ: người đó đã mở mắt cho tôi, thế mà các ông không biết người đó bởi đâu. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa không nghe lời những kẻ tội lỗi, mà hễ ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý Chúa, thì kẻ đó mới được Chúa nghe lời. Xưa nay chưa từng nghe nói có ai đã mở mắt người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì đã không làm được gì”. Họ bảo anh ta: “Mày sinh ra trong tội mà mày dám dạy chúng ta ư?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ta ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người. Chúa Giêsu liền nói: “Chính vì để luận xét mà Ta đã đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy, sẽ trở nên mù”.

Những người biệt phái có mặt ở đó liền nói với Người: “Thế ra chúng tôi mù cả ư?” Chúa Giêsu đáp: “Nếu các ngươi mù, thì các ngươi đã không mắc tội; nhưng các ngươi nói “Chúng tôi xem thấy”, nên tội các ngươi vẫn còn”.

Suy nim: Trường hợp anh mù từ mới sinh khơi dậy những câu hỏi đầy thách thức: Ti sao Chúa li để cho h phi mang nhng khuyết tt như vy? Nếu không phải tại Chúa thì phải tìm ra ai đó chịu trách nhiệm cho ‘phiên bản lỗi’ này: “Ai đã phm ti, khiến anh ta sinh ra đã b mù, ti anh ta hay ti cha m anh ta? Chính anh mù, sau khi được chữa lành, đã làm chứng “công trình ca Thiên Chúa được t hin nơi anh” qua việc anh tuyên xưng đức tin. “Anh nói: ‘Thưa Ngài, tôi tin. Ri anh sp mình xung trước mt Người.

Mi Bn: Những kết án nông cạn dẫn đến biết bao hệ lụy bi thương: những đứa trẻ không được phép chào đời chỉ vì bị phát hiện khiếm khuyết từ trong bào thai,  hoặc nếu may mắn được sinh ra, có khi bị coi như của nợ. Nhưng vẫn có đó những nhân chứng cho thấy “công trình ca Thiên Chúa được t hin nơi h: đó là Stephen Hawking (+ 2018) bị bệnh teo cơ, tê liệt toàn thân là nhà vật lý vũ trụ học thiên tài; hoặc anh Nick Vujicic (Ních Vu-i-chi), bẩm sinh không có tứ chi, là một diễn giả truyền cảm hứng, đã nói: “Tình yêu Thiên Chúa là có tht đến ni Ngài đã to dng nên bn để bn chng minh điu đó.

Sng Li Chúa: Nhờ cầu nguyện để nhận ra công trình của Chúa tỏ hiện nơi bạn và tha nhân.

Cu nguyn: Ly Chúa, xin cho con mt tâm hn biết lng nghe, để có th nhn biết và thc hin điu Chúa mun thc hin qua con. A-men.

18/01 – CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN năm A

“Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian”.

Lời Chúa: Ga 1, 29-34

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, ông Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình liền nói: “Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian. Này tôi đã nói về Ngài: Một người đến sau tôi, nhưng đã có trước tôi, vì Ngài cao trọng hơn tôi. Và tôi, tôi đã không biết Ngài, nhưng để Ngài được tỏ mình ra với Israel, nên tôi đã đến làm phép rửa trong nước”.

Và Gioan đã làm chứng rằng: “Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Ngài. Về phần tôi, tôi đã không biết Ngài. Nhưng Ðấng sai tôi làm phép rửa trong nước phán bảo tôi: “Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần”. Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa”.

Suy nim: Cứ theo lẽ thường tình, chẳng ai muốn lâm vào cảnh người ta ăn ốc còn mình phải đi đổ vỏ! Tội vạ do ai đó gây ra mà nay mình phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, phải đưa lưng ra gánh lấy hậu quả! Chẳng ai dại gì mà làm như thế. Ấy thế mà đó chính là điều Con Thiên Chúa đã làm. Khi xuống thế làm người, Ngài đón nhận trọn vẹn thân phận con người tội lỗi. Đến với Gio-an Tẩy Giả để chịu phép rửa là Chúa Giê-su đến gánh vác lấy tất cả tội lỗi của nhân loại làm tội lỗi của mình. Và Ngài lấy chính bản thân Ngài, gồm cả cuộc sống, cái chết trên thập giá và sự sống lại của Ngài để đền bù tất cả tội lỗi đó thay cho chúng ta. Là Con Chiên vô tì tích, Ngài chấp nhận trở thành “con chiên gánh ti trn gian.

Mi Bn: Chúng ta lắm khi hành xử trái ngược hẳn với cung cách của Chúa Ki-tô. Đừng nói chi tới việc gánh lấy tội lỗi của anh em để đền bù, ngay cả đến những tội do chính chúng ta gây ra, có khi chúng ta còn phủi tay trốn trách nhiệm! Để trở thành môn đệ Chúa Ki-tô bạn cần phải đồng cảm với Ngài, cùng với Ngài hiến thân mình đền bù tội lỗi thay cho anh chị em.

Chia s: Khi trong gia đình/cộng đoàn của bạn có người lỗi phạm, bạn có nhận thấy mình cũng có phần trách nhiệm trong việc anh em sai lỗi đó không?

Sng Li Chúa: Noi gương Chúa Ki-tô “như con chiên b đem đi giết (Is 53,7; Cv 8,32), chấp nhận bị phiền toái hoặc xúc phạm mà không kêu ca trách móc.

Cu nguyn: Ly Chúa Giê-su, xin cho con dám hy sinh thân mình, cùng vác thp giá theo Chúa, để đền bù bao ti li ca con và anh ch em con. Amen.