Chúng con thân mến!

Lời Chúa chúng con vừa nghe nói về luật yêu thương.

Ai trong chúng con trong nhà có máy vi tính, chúng con giờ tay lên cho cha coi.

Chúng con sử dụng máy vi tính bao giờ chưa ?

Ai trong chúng con đã vào trang mạng Google giơ tay cho coi. Google là một trang mạng tuyệt vời. Chúng con thử vào trang mạng Google rồi chúng con thử đánh vào hộp tìm kiếm từ tình yêu xem nó cho kết quả như thế nào. Ngày hôm nay 22 tháng 10 năm 2017 cha vào thử trong vòng 0,51 giây máy cho cha kết quả khoảng từ tình yêu đã được sử dụng đến 55.700.000 lần. Tiếng Anh Love khoảng 7.970.000.000 lần. Nếu tìm kiếm thêm một chút thì cha thấy Vàng có khoảng 151.000.000 kết quả (Gold: khoảng 3.210.000.000 (1,03 giây), và tiền thì được khoảng 220.000.000 kết quả trong vòng 0,57 giây (money 2.750.000.000 kết quả (0,55 giây)

Như vậy thì cha thấy từ tình yêu đối với người Việt mình thì không bằng vàng và tiền. Nhưng với người ngoại quốc thì từ Love được nhiều người quan tâm hơn, con số lên đến 7.970.000.000 kết quả, nhiều hơn cả Gold và Money.

Tại sao lại có sự khác biệt như thế chúng con ?

Theo cha thì có lẽ những người Tây phương đã giàu có nên họ cần love hơn là Goldmoney. Còn người Việt chúng ta vì còn phải sống nghèo nên vẫn còn luẩn quẩn với những gì cụ thể nhất là tiền và vàng.

Hôm nay nhân có câu hỏi của một người Luật sĩ: “Thưa Thầy, trong các giới răn, giới răn nào là quan trọng nhất ?”(Mt 22,36), Chúa Giêsu đã trả lời ngay: “Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Ðó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Môisê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy”(Mt 22,37-40).

Luật yêu thương của Chúa gồm hai vế: Thứ nhất là mến Chúa. Thứ hai là yêu người.

1. Trước hết là mến Chúa. Tại sao vậy ? Tại vì Thiên Chúa là Chúa của mọi loài. Ngài dựng nên và là Chúa yêu thương mọi loài. Thiên Chúa còn là chủ thể, là đấng duy nhất cao cả, không ai có thể sánh bằng. Ngài là nguồn mạch sự sống và là mục đích của muôn loài muôn vật. Vũ trụ chỉ tồn tại trong Ngài. Vì thế ta phải yêu mến Ngài trên hết mọi sự.

Nhưng thử hỏi làm sao mà biết được Chúa yêu thương ? Cha kể cho chúng con một thí dụ.

Chúng con hãy đặt tay lên ngực của chúng con xem, đặt và chỗ trái tim. Trái tim người bình thường đập 72 lần/phút tức 103.680 lần trong 1 ngày.

Mỗi lần tim đập, nó bơm được 0,143 lít máu đi khắp cơ thể, tức là một phút nó bơm được 10 lít máu, 1 giờ được 615 lít, 1 ngày được 14.725 lít máu.

Nếu trái tim không làm việc thì chúng con có sống được không ? Cha hỏi ai làm cho trái tim làm việc không ngừng nghỉ vậy ? Làm việc suốt cả ngày lẫn đêm không nghỉ ngơi một tí nào. Lạ thật! Ai làm vậy chúng con ?

Rồi chúng con đưa tay lên thử bịt mũi lại xem sao. Chúng con thấy gì ? Ồ! không được thở! Không được thở thì sao ?”Tịch” là chết chứ làm sao.

Bình thường chúng con thở 23.000 lần một ngày, hít vào khoảng 12.000 lít không khí, khoảng 2400 lít oxy. 12.000 lít không khí! Chúng con đã thấy cái thùng phuy bao giờ chưa ? Mỗi thùng phung chứa được 200 lít. Như vậy 12.000 lít là 60 thùng phuy không khí mỗi ngày. Cha hỏi chúng con ai cho mình không khí để mình thở vậy. 60 thùng phuy chứ đâu phải ít. Chúng con đã thấy mấy người kiệt sức người ta phải thờ bằng oxy chưa. Cha không biết giá mỗi bình oxy như vậy là bao nhiêu. Nếu mỗi ngày chúng con phải bỏ tiền ra mua 2400 lít tức là 12 thùng phuy oxy để thở thì chắc là không chịu nổi. Vậy cha thử hỏi ai cho chúng ta mỗi ngày 12.000 lít hay 60 thùng phuy không khí trong đó có 2400 lít oxy để thở vậy ? Gia đình chúng con đã bao giờ phải bỏ tiền ra mua không khí để thở chưa ? Không có không khí để thở, chỉ trong vòng 6-7 phút mình tiêu đời rồi! Ai cho vậy chúng con ?

– Chúa cho.

Chúa chẳng bắt chúng ta trả một xu nào!

Tại sao Chúa cho như thế ? Vì Chúa thương.

Chúng con hãy nghe thêm một câu chuyện nữa.

Chuyện kể rằng một hôm kia có chàng thanh niên vào rừng đốn củi. Đến trưa nhọc mệt, anh ta nằm nghỉ dưới gốc một cây đa cổ thụ, nhìn lên cành lá rườm rà, song quả đa nhỏ xíu. Anh nghĩ sao cây thì khổng lồ mà trái nó thì nhỏ xíu. Tôi mà là ông Trời, tôi cho nó mang trái lớn như trái bí và lá to như lá chuối, như thế mới cân xứng. Trong lúc đó thì thân cây bí yếu ớt mà phải mang trái lớn, cây thuốc không cứng rắn mà phải mang lá to như tấm phên. Quả ông Trời thiếu khôn ngoan! Hay là không có ông Trời, mọi vật đo ngẫu nhiên mà có chăng ?

Miên man nghĩ như vậy, anh thiếp ngủ lúc nào không hay. Đang lúc ngủ say, một cơn gió lớn thổi mạnh làm rớt xuống giữa sống mũi anh một quả đa. Anh giật mình thức giấc, vừa xuýt xoa vừa nghĩ:

– May quá! Phải chi trái đa lớn như trái bí thì kể như bữa nay ta tận số rồi! Hèn chi người ta nói: Trái dừa rớt bao giờ cũng tránh người!

Chúa còn yêu thương chúng ta bằng sự quan phòng của Người nữa’

Hãy biết cảm tạ Thiên Chúa và yêu thương Người luôn luôn.

2. Tiếp đến là yêu người. Chúa bảo: “Yêu người như chính mình”.

Ta nói yêu mến Thiên Chúa, điều đó khó mà biết được, nên Thiên Chúa đã ràng buộc điều răn mến Chúa vào điều răn yêu người. Yêu người là bằng chứng yêu mến Chúa. Như vậy mến Chúa yêu người chỉ là hai khía cạnh của cùng một giới răn.

Tình yêu đối với mọi người cho chúng ta thấy tình yêu đối của mình đối với Thiên Chúa. Thánh Gioan Tông đồ đã nói: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta nhận được từ nơi Người: Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1Ga 4,20-21).

Một vị vua không có con nối dõi ngai vàng, nên cho truyền rao khắp nước mời gọi những người đàn ông ưu tú đến để ngài chọn. Ngài đưa ra tiêu chuẩn là kẻ ấy phải có lòng “mến Chúa yêu người”.

Một thanh niên thấy mình có điều kiện nhưng khổ nỗi anh quá nghèo đến mức không có áo quần tươm tất, cũng chẳng có tiền mua sắm thức ăn để đi dự thi. Anh cầu xin Chúa giúp anh. Và sau đó anh đi ăn mày được quần áo và lương thực cần thiết.

Khi đến gần cung điện đức vua, anh mệt mỏi quá nên ngồi nghỉ. Ngay lúc đó anh trông thấy một ông lão ăn xin nghèo. Ông chìa tay xin anh:

– Tôi đói và lạnh quá! Xin cậu thương . . .

Anh nhìn ông lão, lòng vô cùng xúc động. Anh liền cởi chiếc áo lành lặn của anh đổi lấy tấm áo rách tả tơi của cụ, trao cho cụ phần lương thực dự trữ cho chuyến trở về của mình.

Và anh đi vào đền vua. Vừa đến trước mặt vua, anh cúi đầu sâu chào ngài. Khi ngước mắt lên, anh không thể tin nổi mắt anh. Anh thốt lên:

– Thế ra bệ hạ là lão ăn mày lúc nãy ?

– Đúng vậy.

Anh ta ngạc nhiên hỏi:

– Sao bệ hạ làm thế ?

– Vì trẫm muốn thử xem ngươi có thật lòng “mến Chúa yêu người” không.

Xin Chúa cho chúng ta biết sống luật yêu thương của Chúa để chúng ta được xứng đáng với tình yêu Chúa dành cho chúng ta mỗi ngày.

Chúng con hãy sống yêu thương như Chúa dạy, chúng con sẽ thấy mình hạnh phúc.

Hôm nay, ngày CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO, Hội Thánh muốn chúng ta suy nghĩ về việc đem Tin Mừng cứu độ của Chúa Giêsu đến cho anh em lương dân, để cho họ cũng được trở nên môn đệ của Chúa như chúng ta.

Theo Công đồng Vaticanô II thì chúng ta không thể sống đẹp lòng Chúa nếu không thao thức làm cho anh chị em lương dân trở thành môn đệ của Người. Vậy, chúng ta hãy nhìn lại lịch sử xem việc truyền giáo đã được thực hiện như thế nào để rồi qua đó chúng ta sẽ thấy được bổn phận chúng ta phải làm gì.

1. Trước hết là thời các Tông đồ,

Ngay sau khi Chúa Giêsu về trời, các tông đồ đã cất bước lên đường đi rao giảng TM khắp nơi như lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi” (Mt 28,19-20). Sách Tông Đồ Công Vụ đã cho chúng ta thấy các tông đồ ngay lập tức đã lên đường đi rao giảng Đức Giêsu trong các hội đường. (Cv 9,20)

Lý do các tông đồ nêu ra là: “Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho muôn dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết.(Cv 10,42)

Trong thư gửi giáo đoàn Côrintô, thánh Phaolô nói:”Quả vậy, Đức Kitô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng.(1Cr 1,17)

Vì ý thức việc rao giảng Tin Mừng quan trọng như vậy nên các tông đồ đã hăng hái đi rao giảng khắp mọi nơi.

Đầu tiên là cho những người Do thái: “Từ đó ông Saolô cùng với các Tông Đồ đi lại hoạt động tại Giêrusalem. Các ngài mạnh dạn rao giảng nhân danh Chúa.(Cv 9,28)

Sau đó các ngài đã đi khắp nơi.

Phêrô Phaolô đã sang đến tận Roma.

Tục truyền Toma đã sang tới tận Ấn Độ.

“Ông Philipphê xuống một thành miền Samaria và rao giảng Đức Kitô cho dân cư ở đó.(Cv 8,5) Các ngài “Rao giảng lời Chúa tại Pécghê, rồi xuống Áttalia.(Cv 14,25) Các ông đi qua miền Phyghia và Galát, rao giảng lời Chúa ở Axia.(Cv 16,6)

Các ngài rao giảng rất mạnh dạn.(Cv 28,31) và sẵn sàng chịu mọi khổ nhục vì Chúa Kitô;

Sau thời các tông đồ Giáo Hội còn được chứng kiến thêm nhiều sứ giả khác tiếp tục công việc của các Ngài nhất là vào thời Trung Cổ. Từng đoàn, từng đoàn các nhà truyền giáo đã đi về phía Châu Mỹ. Một số đi về phía trời Đông. Một trong số những người này chúng ta phải đặc biệt nói đến một nhân vật mà Hội Thánh đã đặt làm bổn mạng các xứ Truyền Giáo. Người đó chính là Thánh Phanxicô Xaviê.

Tháng 4 năm 1541 ngài xuống tàu tại Lisbon và mãi 14 tháng sau mới đến được Goa bên Ấn Độ. Trong suốt 10 năm truyền giáo (1542-1552) ngài đã đi cả trăm ngàn cây số. Trong 7 năm đầu, ngài truyền giáo ở vùng Mũi Cormorin, sau đó ở Ceylan, Malaysia và từ đó đến Indonesia

Rồi trong vòng 2 năm (1549-1551) ngài đã thành lập một cộng đoàn tín hữu ở Nhật Bản; trước khi ra đi, ngài trao lại cho một Linh mục Bồ đào Nha; 20 năm sau, cộng đoàn này đã lên đến 30 ngàn người. Cuối cùng vì muốn vào Trung Hoa truyền đạo, ngài đã đến đảo Thượng Xuyên ngay cửa khẩu Quảng Châu, để chờ thuyền lén lút đưa ngài vào Trung quốc. Tiếc rằng tại đây ngài ngã bệnh và qua đời. Vài tuần lễ sau, người ta từ Goa đến tìm xác ngài, đem về Goa để chôn cất.

Chúng ta cũng không thể không nói tới những nhà truyền giáo đã đi về hướng Châu Phi. Một nhân vật mà chúng ta không thể quên đó là BÁC SĨ ALBERT SCHWEITZER

“Tôi đã bỏ địa vị Giáo sư tại Đại Học Strasbourg, bỏ công việc tìm tòi khảo cứu khoa học của tôi, bỏ thú tiêu khiển ưa thích nhất của tôi là chơi đàn phong cầm để ra đi hành nghề bác sĩ tại các vùng nhiệt đới Châu Phi.

Vào năm 1952, nhà truyền giáo và là bác sĩ Albert Schweitzer đã nhận được giải thưởng Nobel về hòa bình.

Phải nói rằng những cuộc truyền giáo đã đem lại những kết quả hết sức tốt đẹp.

2. Sau đó Giáo Hội được bổ sung bằng một hình thức truyền giáo khác âm thầm hơn, lặng lẽ hơn nhưng cũng hiệu quả không kém: Đó là truyền giáo bằng cầu nguyện và hy sinh. Đại diện cho hình thức truyền giáo này là thánh Têrêsa HDGS.

Dù chỉ là một nữ tu dòng kín, chị đã khát khao trở thành một vị truyền giáo đi tới hang cùng ngõ hẻm của trái đất bao la này! Nguyện ước này đã được bề trên chấp thuận với chương trình gửi chị qua dòng kín Sài Gòn, Việt Nam nhưng ý Chúa nhiệm mầu! Chị đã ngã bệnh lao phổi trầm trọng…. và giã từ cuộc sống này lúc vừa tròn 24 xuân xanh.

Trước giờ chết, chị đã nói như tạm biệt cộng đoàn: “Tôi không chết, tôi bước vào cõi sống”. Và như một vị tiên tri, chị nói với mẹ Bề Trên;” A! Con biết lắm, rồi cả thế giới sẽ yêu thương con”. Liền sau cuộc mai táng tại nghĩa trang của thị trấn, có một trận mưa hoa hồng ngay trên mộ của nữ tu trẻ tuổi này, vì chị đã hứa: “Tôi về trời, là để làm điều tốt cho thế gian”.

Tại Paris nhân ngày Đại hội giới trẻ thế giới lần thứ 12 (21-24.8) năm 1997, ngày bế mạc Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã loan báo: Giáo Hội sẽ tôn phong thánh Têrêsa lên hàng Tiến sĩ Hội Thánh vào ngày Chúa nhật Truyền giáo 19.10.1997.

Như vậy qua việc đặt Têrêsa HDGS làm bổn mạng và phong Ngài làm tiến sĩ Hội Thánh GH đã công khai thừa nhận việc hy sinh và đời sống cầu nguyện cũng có một giá trị truyền giáo không kèm gì việc ra đi truyền giáo như các tông đồ thuở xưa.

3. Việc truyền giáo hôm nay.

Ngày nay việc truyền giáo còn được làm phong phú hơn bằng một phương pháp mới: Truyền Giáo bằng chứng tá của cuộc sống.

Khi các nhà truyền giáo Công giáo hỏi ý kiến ông Gandhi về việc họ phải làm gì để các người theo đạo Hinđu chấp nhận bài giảng trên núi của Đức Giêsu. Ông Ganđhi trả lời: “Các ông hãy nghĩ về bí quyết của những bông hoa hồng. Mọi người đều yêu thích chúng, vì ngoài vẻ đẹp và màu sắc sặc sỡ, hoa còn tỏa ra mùi thơm thoang thoảng như diệu kỳ của nó. Vậy các ông hãy “tỏa hương thơm!”

Đức Thánh Cha Phao-lô VI đã thật chí lý khi nói rằng: “Con người thời đại chúng ta thích nghe các chứng nhân hơn là các bậc thầy, hoặc nếu có nghe các bậc thầy thì chính vì những vị thầy này là chứng nhân”

Người đại diện nổi bật nhất và cũng là mẫu mực nhất của việc truyền giáo bằng phương pháp này chính là mẹ thánh Têrêsa Calcutta.

Ngày nay, công việc của Dòng Bác Ái Truyền Giáo thì nhiều loại và được chia ra như sau:

Việc Tông Ðồ qua những lớp Giáo Lý, học hỏi Kinh Thánh, nhóm hoạt động Công Giáo, và thăm viếng bệnh nhân, người già và tù nhân.

Chăm Sóc Y Tế qua các nhà thương, bệnh viện người cùi, những em bị tật nguyền tâm lý và thể lý, những người hấp hối và tuyệt vọng, người bị bệnh AIDS và ho lao, những trung tâm suy dinh dưỡng và những bệnh xá lưu động.

Việc Giáo Dục qua các trường tiểu học trong các khu nhà nghèo, lớp dạy may cắt, lớp thương mại, lớp cho người tàn tật, lớp mẫu giáo ở làng, và những chương trình giữ trẻ.

Dịch Vụ Xã Hội qua chương trình an sinh và giáo dục trẻ em; giữ trẻ; nhà cho người vô gia cư, người nghiện rượu và thuốc sái; nhà cho những người mẹ không chồng; nơi tạm cư ban đêm; và trung tâm dạy điều hoà sinh sản.

Dịch Vụ Cứu Tế qua những trung tâm thực phẩm và quần áo…

Một nhà truyền giáo tại Ấn Độ, ông Gordon Marsuel đã xin một tín đồ Ấn độ giáo, đến sống bên cạnh để dạy ông học tiếng bản xứ. Nhưng tín đồ Ấn này từ chối, anh ta nói:

– Thưa Ngài, tôi không thể đến dạy tiếng bản xứ cho ngài, vì lẽ tôi không muốn trở thành Kitô hữu.

Nhà truyền giáo trả lời:

– Tôi muốn học tiếng bản xứ để có thể giao tiếp với những người chung quanh để hiểu biết họ hơn, chứ không nhằm bắt họ trở lại với đạo Chúa.

Nhưng người tín đồ Ấn giáo đáp lại:

– Thưa ngài, tôi biết vậy. Nhưng đối với tôi, tôi nhận thấy rằng: không một ai có thể sống bên cạnh ngài mà không bị ngài cảm hóa để tin vào Chúa. Tôi không thể dạy ngài vì tôi đã nghĩ, không thể nào sống bên cạnh ngài mà không trở thành Kitô hữu.

Chúng con thân mến,

Hôm nay là ngày Chúa nhật Truyền giáo.

Truyền giáo là gì chúng con ?

I. Chúng con vẫn nghe thấy người ta nói truyền thanh, truyền hình. Truyền thanh là truyền âm thanh. Cha nhớ lại ngày xửa ngày xưa khi cha còn nhỏ, nhỏ như chúng con cha và mấy đứa bạn của cha lấy hai cái ống lon sữa bò…lấy một miếng bong bóng heo bịt lại rồi xỏ giây vào hai đầu…rồi giăng ra….rồi nói với nhau.

Giờ thì chúng con thấy khác xưa rất nhiều….người ta không truyền bằng dây đay mà là bằng giây kim loại. Ở nhà chúng con ai có điện thoại giơ tay cha coi. Rất hay…. Điện thoại là truyền cái gì hả chúng con ? Truyền âm thanh. Rất trúng. Bây giờ còn hơn truyền thanh …truyền gì nữa chúng con ? Truyền hình….Rất trúng.

Lúc đầu cha nhớ …chỉ có hình trắng đen…..nhưng bây giờ thì hình mầu…đẹp “hết biết” luôn. Và trong tương lai không xa người ta còn muốn truyền cả mùi nữa…Thật là kỳ diệu.

Cha hỏi chúng con muốn truyền như thế thì trước hết người ta phải làm gì nào chúng con ?

Phải thu…..phải thu thanh, phải thu hình.

Thỉnh thoảng nghe đài chúng con thấy người ta bảo truyền thanh, truyền hình trực tiếp. Trực tiếp nghĩa là làm sao ? Nghĩa là thu một cái rồi phát ngay. Người nghe hay người xem có thể thấy ngay những gì đang diễn ra ở một nơi nào đó trên thế giới này. Ai cho cha một thí dụ xem nào.

Thí dụ cụ thể nhất là bóng đá hay thế vận hội vvv. Ở một nơi nào đó trên thế giới, các cầu thủ đang tranh tài ở trên sân cỏ, dù ở xa thật xa vậy mà đài truyền hình mang tất cả các hình ảnh thật sống động đó tới mình ngay làm cho mình có cảm tưởng là mình cũng đang có mặt để tham dự trận cầu đó vậy. Hay qúa phải không chúng con ?

II. Bây giờ cho nói về truyền giáo. Nếu có ai hỏi cha truyền giáo là gì thì cha có thề trả lời thật dễ hiểu như sau: Là đem Chúa đến cho người khác. Đem Chúa đến cho những người chưa biết Chúa.

Chúa Giêsu ngày xưa đã làm điều này trước tiên.

Thiên Chúa Cha là Đấng mà chẳng ai có thể biết được. Vậy mà Chúa Giêsu đã làm cho người ta biết được Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu làm hay lắm. Chúa vừa nói vừa làm. Chúa nói để người ta biết có một Thiên Chúa yêu thương con người. Rồi Chúa sống những lời Chúa dạy để qua cuộc sống của Chúa, người ta thấy được hình ảnh của Thiên Chúa Cha, một Thiên Chúa là tình yêu, luôn yêu thương hết mọi người.

Đây là một số thí dụ nhờ Chúa Giêsu mà người ta nhận ra được Thiên Chúa. Người ta thấy Thiên Chúa qua Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu nói: “Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha.(Ga 6,46)

Chúng con nhớ lại câu chuyện của Philipphê trong Tin Mừng Gioan Chương 14,8-11: Ông Philípphê nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện. “Đức Giêsu trả lời: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha” ? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm”

Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.

Đó chúng con thấy, Chúa Giêsu làm cho người ta thấy Thiên Chúa Cha.

Hôm đó Chúa cùng đi với các môn đệ của Chúa trên một con thuyền. Bỗng nhiên sóng gió bão táp nổi lên. Chúa dẹp yêu sóng gió bão táp ngay. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Chúa và nói: Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!”(Mt 14,33)

Ông Nathanaen nói: “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Israel!” (Ga 1,49)

Ông Simôn Phêrô thưa: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16,16)

Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và nói: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa.” (Mt 27,54)

Còn các thần ô uế, hễ thấy Đức Giêsu, thì sấp mình dưới chân Người và kêu lên: “Ông là Con Thiên Chúa!”(Mc 3,11) và kêu lớn tiếng rằng: “Lạy ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện tôi can gì đến ông ? Nhân danh Thiên Chúa, tôi van ông đừng hành hạ tôi!”(Mc 5,7)

Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Chúa tắt thở trên Thánh Giá lạ lùng quá liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” (Mc 15,39)

Quỷ cũng xuất khỏi nhiều người, và la lên rằng: “Ông là Con Thiên Chúa!” Người quát mắng, không cho phép chúng nói, vì chúng biết Người là Đấng Kitô.(Lc 4,41)

Thấy Đức Giêsu, anh la lên, sấp mình dưới chân Người, và lớn tiếng nói rằng: “Lạy ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện tôi can gì đến ông ? Tôi xin ông đừng hành hạ tôi!” (Lc 8,28)

Mọi người liền nói: “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao ?” Người đáp: “Đúng như các ông nói, chính tôi đây.”(Lc 22,70)

Nghe vậy, Đức Giêsu bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.” (Ga 11,27)

Bây giờ đến lượt chúng ta. Muốn đem Chúa đến cho người khác chúng ta phải làm gì ? Trước hết phải biết Chúa trước. Cũng giống như người ta muốn truyền thanh, truyền hình thì phải thu trước. Thu bằng cách nào chúng con ? Thưa bằng cách học về Chúa.

Không có thì không cho được. Muốn cho thì phải có.

Vậy phải biết Chúa trước đã.

Rồi thì phải làm gì tiếp theo ?

Có thể có nhiều cách nhưng cách tốt nhất và có thể mang lại nhiều kết quả nhất đó lá cách làm chứng. Làm chứng bằng chính đời sống tốt đẹp thánh thiện của mình. Cha kể cho chúng con câu chuyện này:

Linh mục NATARINÔ ROCHKY, một thừa sai người Italia làm việc truyền giáo lâu năm ở Nhật Bản, đặc biệt là Ngài làm Cha sở họ đạo Elsaye. Cách thủ đô Tôkyô khoảng 100 km. Ngài kể lại câu chuyện sau đây: “Có một giáo sư đại học trẻ tuổi người Nhật xin gặp tôi mỗi tuần 2 buổi tối để thảo luận về các vấn đề tôn giáo và Phúc Âm, mặc dù ông chưa phải là tín hữu Công giáo. Những thảo luận như vậy kéo dài hơn một năm trời. Vị giáo sư này trình bày cho tôi những nghi ngờ, thắc mắc về đạo, đồng thời ông cũng xin tôi giải thích thêm về Phúc Âm, về Giáo hội và về luân lý của đạo công giáo.

Sau hơn một năm, tôi cảm thấy vị giáo sư thông minh đó có vẻ sẵn sàng đón nhận Bí Tích Thánh Tẩy, nên tôi hỏi ông có muốn được rửa tội và gia nhập vào Hội thánh Công Giáo hay không. Tôi ngạc nhiên khi thấy ông từ chối cách lịch sự. Và từ đó, tôi không thấy không lui tới với tôi nữa… Bẵng đi hơn 10 tháng, khi tôi hầu như đã quên đi vị giáo sư đó, thì một hôm. Ông trở lại gặp tôi và nói:

Thưa Cha, Cha đã thuyết phục được con. Bây giờ con sẵn sàng đón nhận Bí Tích Rửa tội và con cũng đã chuẩn bị cho vợ con cũng như hai đứa con của con.

Nghe đến đây, tôi rất ngạc nhiên. Tôi hỏi ông điều gì đã khiến ông thay đổi ý kiến như thế. Ông ta đáp:

– Trong những tháng qua, con đã âm thầm quan sát xem Cha đã sống như thế nào. Cha đã từng nói với con rằng Cha thường dâng thánh lễ một mình trong nhà thời mỗi ngày lúc 7 giờ sáng. Đó cũng là giờ con ra ga xe lửa để đến Tôkyô dạy học, vì thế con vẫn có dịp đi qua Nhà thờ của Cha. Con dừng lại một lát nhìn Cha qua cửa sổ, xem Cha làm gì trong đó. Bao giờ con cũng thấy Cha trong Nhà thờ và cầu nguyện thật sốt sắng. Ngoài ra, con cũng dò hỏi nhiều người về cách sống của Cha. Qua các cuộc điều tra đó, con thấy quả thật Cha đã tin và đã sống những điều Cha đã chia sẻ cho con về đạo. Xét về mặt kiến thức thì con đã xác tín về sự thật Tin Mừng, nhưng con muốn xem Cha có sống Tin Mừng thực sự hay không”.

Đúng là cha Cha Rochky đã làm cho ông giáo sư này thấy được Đạo qua cách sống cua cha. Không những cha đã truyền giáo bằng lời nói, giảng dạy, nhưng còn bằng cuộc sống thường ngày của cha nữa chúng con. Cha chúc chúng con cũng làm được như thế.

Để diễn tả hạnh phúc Nước Trời, tác giả Kinh thánh thường dùng hình ảnh một bữa tiệc, nhất là tiệc cưới. Vào khoảng thế kỷ 8 trước Chúa Giáng sinh, ngôn sứ Isaia đã loan báo: Chúa các đạo binh sẽ thiết đãi tất cả các dân trên núi này một bữa tiệc đầy thịt và rượu, thịt thì béo, rượu thì ngon như trong bài đọc 1 chúng ta vừa nghe.

Bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu cũng dùng dụ ngôn bữa tiệc cưới của con vua để diễn tả về Nước Trời. Chúa Giêsu muốn dùng dụ ngôn này trước hết để ám chỉ về dân Do Thái. Thiên Chúa đã kêu gọi họ, tuyển chọn họ làm dân riêng, lập giao ước với họ để họ tin thờ một mình Ngài và giữ thánh luật Ngài truyền, nhưng họ lại đi thờ thần dân ngoại. Đã bao lần Thiên Chúa sai các ngôn sứ đến kêu gọi họ trở về với Ngài, nhưng họ vẫn chứng nào tật nấy. Cuối cùng, chính Con Thiên Chúa đến kêu mời họ sám hối ăn năn thì họ đã thẳng thừng từ chối, rồi bắt Ngài mà giết đi. Thiên Chúa đã trừng phạt họ bằng cách để quân Rôma đến san bằng Giêrusalem vào năm 70 sau Công nguyên và bắt họ phải tản mát, lưu đày khắp nơi.

Sau đó, Chúa Giêsu sai các tông đồ đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng và mời gọi muôn dân gia nhập Hội thánh Ngài.

Có một điều làm chúng ta thắc mắc khi nghe dụ ngôn này là tại sao lại có một khách dự tiệc không mặc lễ phục cưới, nên bị vua xử phạt nặng nề. Chúng ta tự hỏi những người đang đi đường, được mời vào tiệc cưới thì họ lấy đâu ra lễ phục cưới ? Vậy tại sao vua lại bắt tội như thế ?

– Trước hết chúng ta phải nhớ đây là một dụ ngôn, mà đã là dụ ngôn thì có thể có những điều không giống với thực tế của cuộc sống.

– Hơn nữa nếu đọc kỹ chúng ta sẽ thấy hai điều:

* Một là biết bao người đi đường cũng được mời vào dự tiệc cưới mà hỏi có ai bị phạt đâu ? Như vậy chắc chắn là người này bị phạt vì một điều lỗi gì đó!

* Hai là khi vua hỏi tại sao không mặc áo cưới thì anh ta im lặng. Thái độ đó nói lên rằng anh ta đã chịu lỗi, mà không thể chữa mình được.

Như vậy Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta một điều rất cụ thể. Thiên Chúa đã mời gọi chúng ta vào Hội thánh Ngài và chúng ta đã chấp nhận bằng cách lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Nhưng nếu chỉ lãnh nhận Bí tích Rửa tội mà thôi thì chưa đủ mà chúng ta còn phải sống ơn Bí tích Rửa tội nữa. Nghĩa là chúng ta phải thay đổi nếp sống cũ, thói quen xấu, tội lỗi trước đó, để sống đời sống mới theo gương của Chúa Giêsu như thánh Phaolô nói: “Anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng (Rm 13,14). Theo gương Chúa Giêsu là phải sống trong sạch, hiền lành, khiêm nhường, thánh thiện. Nói khác đi, không phải cứ ghi tên vào sổ Rửa tội và Thêm sức là đương nhiên được vào Nước Trời đâu. Cũng như khách được mời dự tiệc, tuy đã được vào phòng tiệc, nhưng không được ăn mà còn bị đuổi ra ngoài như người không mang lễ phục của tiệc cưới trong bài dụ ngôn hôm nay. Vậy điều quan trọng là một khi vào phòng tiệc mà muốn được ăn tiệc thì phải mặc lễ phục tiệc cưới,

Nhưng lễ phục tiệc cưới là gì ?

Thưa đó là những đòi hỏi của Bí tích Rửa tội! Người lãnh Bí tích Rửa tội phải quyết từ bỏ tội lỗi và tin theo Chúa Kitô.

Xét như thế thì chúng ta thấy nhiều khi chúng ta cũng giống như Người Do Thái xưa, tuy đã được Chúa chọn làm dân riêng Ngài, nhưng khi Ngài mời dự tiệc cưới Con Ngài thì lại kiếm cớ từ chối. Chúng ta cũng có nhiều lý do để từ chối tham dự thánh lễ Chúa nhật: nào là mắc buôn bán, học hành… Có khi chỉ là vì đam mê xem một cuốn phim, một trận đá bóng hấp dẫn, hay đang dở một cuộc nhậu nhẹt với bạn bè… Có khi đến tham dự thánh lễ mà tâm hồn còn mang tội trọng thì là sao mà xứng đáng dự tiệc Thánh Thể Chúa được.

Và đòi hỏi thứ hai của Bí tích Rửa tội là sống theo gương Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải sống yêu thương mọi người nhất là những người bất hạnh. Chúa nói: Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy: Là anh em có lòng yêu thương nhau (Ga 14, 35). Rồi chính Ngài đã mạc khải cho chúng ta: ngày phán xét, Ngài sẽ chỉ xét xử chúng ta về lòng bác ái yêu thương mà thôi (x. Mt 25).

Đây là câu chuyện nhỏ được kéo xuống từ Internet:

Từ nhỏ nó đã chơi với những đứa trẻ hư hỏng. Khi học trung học, nó thường xuyên bị giữ ở đồn công an vì tội đánh nhau. Sau đó nó bị đưa vào trường giáo dưỡng một thời gian. Chưa tốt nghiệp trung học nó đã bỏ học, suốt ngày chơi bời lêu lổng với đám thanh niên du côn. Cha mẹ tức giận đuổi nó ra khỏi nhà. Sau này với tội danh giết người, nó bị kết án tù 20 năm. Trong tù nó không chỉ ăn hiếp những tù nhân khác mà còn mấy lần định trốn trại. Vì thế hình phạt lại càng gia tăng. Mỗi khi trại giam cho người nhà vào thăm phạm nhân, nó là người nhàn rỗi nhất, bởi lẽ người thân chưa bao giờ đến thăm nó, hơn nữa nó cũng không hy vọng.

Nhưng vào một ngày kia, người quản giáo thông báo, có người đến thăm nó. Nó cứ tưởng mình nghe nhầm. Khi người quản giáo gọi tên nó một lần nữa, nó mới đi ra phòng tiếp thân nhân. Khi quay trở về phòng, nó đã khóc nức nở. Sau đó, nó dường như biến thành một người khác hắn, nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, kỷ luật của trại giam, tích cực cải tạo

Người phụ nữ với mái đầu điểm bạc đến thăm nó hôm đó chính là cô giáo chủ nhiệm lớp hai của nó.

Tình yêu thương có thể thay đổi cuộc đời một con người. Vì thế hãy thương yêu những người xung quanh chúng ta. Chúa cũng chỉ muốn chúng ta như thế.

Thiếu nhi chúng con yêu quí,

Chúng ta vừa được nghe một dụ ngôn khác nữa của Chúa Giêsu. Dụ ngôn này có nhiều ý nghĩa. Cha chọn ý nghĩa dễ hiểu và thông thường nhất để nói chuyện với chúng con hôm nay.

Cha đố chúng con qua dụ ngôn này Chúa muốn nói với mọi người chúng ta điều gì ? Có nhiều điều Chúa muốn nói, nhưng theo cha thì có hai điều này con người hay vấp phạm và qua dụ ngôn này, Chúa muốn nói với chúng ta. Hai điều đó là:

– Thứ nhất là từ chối tình yêu của Thiên Chúa.

– Thứ hai là thiếu kính trọng đối với Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương con người.

1. Từ chối tình yêu của Thiên Chúa.

Thiên Chúa yêu thương con người. Đó là một hạnh phúc lớn lao không có gì sánh nổi. Tình yêu của Thiên Chúa thì vô biên nên Người khao khát chia sẻ. Thiên Chúa vô cùng tốt lành nên Người muốn thông ban hạnh phúc cho loài người. Tình yêu thì mãnh liệt khiến Người nảy sinh những sáng kiến kỳ diệu. Cho Con Một cưới lấy bản tính loài người để nâng loài người lên. Thiên Chúa mời gọi loài người vào hưởng hạnh phúc với Người. Thiên Chúa nâng loài người hèn hạ lên bậc thượng khách trong tiệc cưới. Thiên Chúa nâng loài người tôi tớ lên hàng con cái trong Nước Trời. Đưa nhân loại bơ vơ đầu đường xó chợ vào ngồi đồng bàn với các vị thần thánh trên trời.

Chẳng có gì có thể giải nghĩa được thái độ đó của Thiên Chúa. Chỉ có tình yêu. Đó là một tình yêu vô cùng mãnh liệt và hoàn toàn vô vị lợi. Tình yêu muốn chia sẻ hết những gì mình có. Tình yêu hoàn toàn vì người mình yêu. Mong muốn mọi sự tốt đẹp cho người mình yêu.

Thế nhưng thử hỏi con người đã đáp lại Tình Yêu của Thiên Chúa thế nào ?

Kinh Thánh đã cho chúng ta thấy dường như con người chỉ đáp lại bằng sự lãnh đạm, chối từ và nhiều lần đã phản bội. Lịch sử con người là lịch sử tình yêu bị chối từ như thế. Rõ rệt nhất là con người đã chối từ chính Con Một Thiên Chúa là Ngôi Lời mà Chúa đã gửi xuống trần gian để cứu rỗi loài người là Chúa Giêsu. Còn gì đau xót hơn như lời thánh Gioan Tông đồ đã nói: Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”. (Ga 1,10-11)

Vâng, con người là như thế. Bài dụ ngôn hôm nay đã cho chúng ta thấy rõ điều đó. Những người được mời đã từ chối. “Quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn”(Mt 22,5) Tệ hơn họ: “còn bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết.(Mt 22,7).

Chúa đã đối xử lại thế nào thì dụ ngôn cũng đã cho chúng ta thấy: “Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu hủy thành phố của chúng.”(Mt 22,11). Tội từ chối Thiên Chúa là tội rất lớn. Chúng ta hãy coi chừng để đừng mình vấp vào tội ấy. Hãy coi chừng: Thiên Chúa yêu thương nhưng không khoan nhượng đối với những kẻ dám thách thức Thiên Chúa.

Đây là câu chuyện xảy ra ngay trên đất nước của chúng ta. Câu chuyện cho mọi người thấy Chúa đã trừng phạt kẻ phạm thượng và bất kính đối với phép Thánh Thể. Chuyện xảy ra vào tháng 3 năm 1955 ở Bùi chu. Vị bề trên tu viện kể rằng một người lính đã ngang ngược đòi vào trong tu viện, nhưng các nữ tu đã chận lại và nói cho anh ta biết đây là nhà của Chúa, anh phải có lòng tôn kính.

Anh hỏi: “Chúa các chị ở đâu ?”

Các chị đáp: “Ở đây!”và đưa tay chỉ tay về phía nhà tạm.

Người lính lấy súng bắn, phá tan cửa nhà tạm và bắn vào bình thánh giữ Mình Thánh Chúa làm cho Mình Thánh Chúa vung vãi rơi xuống sàn nhà.

Tiếng dội của súng bắn vừa ngưng, người lính cũng ngã lăn ra chết, chết vì nhồi máu cơ tim.

2. Thứ hai là thiếu kính trọng đối với Thiên Chúa là Đấng luôn yêu thương con người.

Dụ ngôn kể: “Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới ?” Người ấy câm miệng không nói được gì. “(Mt 22,11)

Cha hỏi chúng con đã có bao giờ chúng con đi ăn cưới chưa ?

– Dạ có.

– Chúng con thấy những người đi ăn cưới ăn mặc làm sao chưa ?

– Rất đẹp.

– Ăn mặc như thế để làm gì ?

– Theo cha thì là để tỏ lòng quí mến cô dâu chú rể và cũng để tỏ lòng tôn trọng đối với người khác.

Việc tôn trọng đối với người khác là một điều rất cần trong cuộc sống của loài người. Thiếu sự tôn trọng sẽ nảy sinh ra nhiều điều bất hạnh trong cuộc sống. Một gia đình mà mọi người biết tôn trọng nhau, gia đình ấy sẽ luôn được sống trong bình an và hạnh phúc. Trái lại một gia đình nào mà những người trong gia đình không có lòng tôn trọng nhau, cha bảo đảm gia đình ấy sẽ gặp nhiều cảnh đau khổ bất hạnh

Trong bài dụ ngôn hôm nay, chúng con thấy tất cả mọi người đều ăn mặc lễ phục cưới hỏi. Duy chỉ có một người là không làm như thế. Rõ ràng là người này coi mọi người chung quanh mình chẳng ra gì. Đúng là con người này thiếu lòng tôn trọng đối với người chủ tiệc và những người khác trong phòng tiệc và chính vì thế mà anh ta đã bị trừng phạt. “Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng!” (Mt 22,13)

Trong một thành phố ở xứ Bavieres trước đây, có một cuộc kiệu Mình Thánh Chúa rất lớn. Trên một đoạn đường kiệu đi ngang qua, có một người đàn bà có đạo nhưng hư thân mất nết. Sách báo xấu và việc thường xuyên đi xem phim ảnh xấu cũng như tham dự các buổi vũ hội trắc nết đã làm bà không còn giữ được đức tin của thời thơ ấu của mình. Lúc đoàn kiệu – lúc ấy đang diễn lại cảnh truyền tin với hai nhân vật: Đức Maria và sứ thần Gabriel – đi ngang qua, bà cười to và nói:

– Kìa hãy xem những kẻ đang làm trò múa rối kìa!

Chưa hết, khi Mình Máu Chúa với cái lọng che rộng lớn đi ngang qua, trong khi những người khác quỳ gối xuống cung kính thờ lạy, thì bà đã không ngăn cản được bản tính ngỗ nghịch, phỉ báng của mình, bà đã dám thốt ra câu nói ghê gớm sau:

– Ước chi những kẻ nào nuốt những miếng bánh nhỏ này sẽ bị nghẹn họng!.

Người đàn bà này sau đó trở về nhà. Và bởi vì cảm thấy đói bụng, bà đã nuốt một cách vội vã những miếng bánh mì. Một miếng bánh lớn đã dừng lại trong cổ họng làm bà ta nghẹt thở.

Hai giờ sau cuộc phỉ báng của bà, bà chỉ còn là một thây ma! Thế mới biết Thiên Chúa đã không để những kẻ chế giễu các sự thánh tránh khỏi một sự trừng phạt!

Phần chúng ta, chúng ta hãy đến với Thiên Chúa với hết lòng kính trọng của mình. Chắc chắn Chúa sẽ thương ban nhiều ơn lành cho chúng ta. Amen.

Anh chị em thân mến.

Chúng ta vừa nghe một dụ ngôn Chúa Giêsu dùng để nói về những gì mà người Do Thái đã và đang dự tính làm đối với Chúa.

Có thể nói đọc ngôn này, ai cũng hiểu ý Chúa muốn nói gì. Ai cũng hiểu những nhân vật Chúa dùng trong dụ ngôn ám chỉ về những người nào.

Ngày xưa, vườn nho là nước Do thái. Chủ vườn nho là chính Thiên Chúa. Những kẻ trồng nho mướn là những giới chức tôn giáo Do thái, là những kẻ chịu trách nhiệm với Thiên Chúa về sự hưng thịnh của quốc gia. Những đầy tớ lần lượt được sai đến là các tiên tri. Họ được Chúa sai đến nhưng đã bị chối bỏ và giết đi. Người con trai đến sau cùng không ai khác hơn là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cũng bị bọn thuê mướn vườn nho giết chết. Việc này chưa xảy ra nhưng chắc sẽ xảy ra. Và quả như lời Chúa tiên báo Chúa Giêsu cũng đã cùng chung một số phận như các tiên tri thuở trước. Đây là câu chuyện Chúa dùng để tiên báo về chính cái chết của Ngài.

Chúng ta thử hỏi qua dụ ngôn này Chúa muốn nói với chúng ta về những điều gì ?

A. Việc đầu tiên Chúa muốn cho mọi người thấy.

1. Trước hết về Thiên Chúa. Chúng ta có thể thấy ngay:

a) Thiên Chúa tin cậy con người. Như ông vườn nho trao cho kẻ trồng nho mướn. Ông không đứng canh họ như cảnh sát, ông đi xa, để họ tự giác làm việc. Thiên Chúa cũng tôn trọng con người như thế. Người trao phó cho họ công việc của Ngài. Mỗi một công tác chúng ta nhận đều bởi Chúa trao cho chúng ta làm.

b) Thiên Chúa là Đấng nhẫn nhục. Như người chủ sai hết người đại diện này đến người đại diện khác đến với họ. Ông không báo thù ngay khi người đại diện ban đầu bị ngược đãi. Ông cho những người làm mướn trong vườn nho hết cơ hội này đến cơ hội khác để đáp ứng đòi hỏi của ông. Thiên Chúa cũng nín chịu hết mọi tội lỗi của con người và cho con người có cơ hội để ăn năn.

c) Sau cùng Thiên Chúa mới là Đấng phán xét. Cuối cùng, người chủ vườn nho đã lấy lại vườn nho và trao lại cho người khác. Cũng tương tự như thế, Thiên Chúa phán xét thật nghiêm khắc. Điều nghiêm nhất là khi Chúa lấy khỏi tay chúng ta những công tác Ngài muốn chúng ta làm. Khi đó những người bị Chúa phán xét sẽ trở nên vô dụng đối với Chúa.

2. Tiếp đến, dụ ngôn cho chúng ta thấy nhiều điều về con người:

a) Đặc quyền của con người: Vườn nho được sắp sẵn mọi thứ, có hàng rào, có hầm ép rượu và tháp canh, để giúp cho việc canh tác được dễ dàng. Thiên Chúa không những giao công tác để làm mà còn giao phương tiện để làm nữa.

b) Sự tự do của con người: người chủ vườn để những người thuê mướn được hoàn toàn làm việc theo ý thích. Thiên Chúa không phải là người độc đoán, Ngài như một vị chỉ huy khôn ngoan trao phó công tác rồi để cho họ làm.

c) Con người phải trả lời về hành vi của mình. Tất cả mọi người đều sẽ có một ngày phải tính sổ. Chúng ta phải trả lời Thiên Chúa về cách chúng ta thi hành công tác mà Ngài trao cho.

d) Con người cố tình phạm tội: trong dụ ngôn những người làm mướn trong vườn nho đã cố tình thực hiện kế hoạch chống lại và không vâng phục ông chủ. Tương tự như, thế tội lỗi là cố ý chống lại Thiên Chúa, là cố tình theo đường lối riêng dù đã biết rõ đường lối Chúa như thế nào.

3. Cuối cùng dụ ngôn nói cho chúng ta về Chúa Giêsu.

a) Chúa Giêsu là ai ? Dụ ngôn cho chúng ta thấy rõ Chúa Giêsu là ai. Ngài là Đấng hơn các tiên tri đi trước. Những người đã đến trước Ngài chỉ là những sứ giả của Thiên Chúa, không ai có thể phủ nhận vinh dự đó của họ, nhưng họ chỉ là tôi tớ, còn Ngài mới là Con. Ví dụ này là một lời tuyên xưng rõ rệt nhất về Chúa Giêsu, về địa vị độc đáo của Ngài và xác định rõ ràng Ngài hơn các vĩ nhân đã đến từ trước.

b) Sự hy sinh của Chúa Giêsu: dụ ngôn rõ ràng cho thấy những gì đang ở phía trước. Những kẻ làm vườn gian ác đã giết con trai của chủ. Chúa Giêsu không nghi ngờ gì về những việc đang chờ đợi Ngài. Ngài không chết vì bị bắt buộc phải chết nhưng Ngài sẵn lòng đi tới và đối diện với cái chết.

B. BÀI HỌC.

Bài học cụ thể nhất mà mọi người có thể thấy: Đó là Thiên Chúa có chương trình của Ngài.

Đây là chương trình do chính Thiên Chúa Cha hoạch định và Chúa phải thi hành.

Không ai có thể cản trở được chương trình của Thiên Chúa.

Con người đừng có ảo tưởng có thể làm cho công trình của Thiên Chúa phải thất bại.

Mọi âm mưu của con người sẽ thất bại khi Thiên Chúa ra tay uy quyền.

Họ chớ có tưởng khi giết được Chúa Giêsu là họ đã có thể ăn mừng chiến thắng.

Thiên Chúa sẽ cho họ thấy quyền năng của Chúa. “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.(Mt 21,42)

Malebon là tên của một tảng đá rất nổi tiếng tại tiểu bang California. Tên của tảng đá này được người ta nhắc đến do một sự tình cờ: Ngày nọ, có một người dân làm đơn khiếu nại Sở Kiều lộ. Người này báo động rằng vì nạn đất chùi, tảng đá này có thể đổ xuống làm hư nhà; và thế là hai chiếc trực thăng yểm trợ cho hai xe cẩu loại lớn, người ta đã đưa tảng đá ra xa lộ.

Theo dõi câu truyện trên đài truyền hình, một người Úc nọ đến mua tảng đá đó với giá 100 Mỹ kim. Sở Kiều lộ của thành phố mừng thầm vì ít ra cũng có người giúp họ di chuyển cái của nợ ấy ra khỏi xa lộ. Sau đó, người Úc bỏ ra 20.000 Mỹ kim để thuê xe chuyên chở tảng đá ấy về nhà, và sau bốn tháng miệt mài, anh đã tạc được chân dung của một tài tử nổi tiếng chuyên đóng phim cao bồi. Đó là món quà quý nhất mà người Úc đã dành cho tài tử này trước khi nhắm mắt lìa đời. Không bao lâu sau đó, tác phẩm đã được bán cho một người chuyên sưu tầm với giá một triệu Mỹ kim.

Tảng đá Melebon trên đây đã bị nhiều người xem như là một của nợ cần vứt đi, nhưng một người Úc đã nhìn ra nó như một thách đố để thực hiện một công trình vĩ đại. Sự thành công trong cuộc sống thường được nhiều người gán cho là một sự ngẫu nhiên hay một vận may nào đó. Nhưng người có niềm tin thì xem đó là sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Trước Công nghị Do thái, thánh Phêrô đã giải thích về cái chết của Chúa Giêsu, với câu nói thời danh: “Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ đã trở thành viên đá góc tường”. Cái chết của Chúa Giêsu quả thực là một hành động đê hèn dã man của người Do thái, nhưng Thiên Chúa đã biến cái chết ấy trở thành biểu tượng của tình yêu, và nguyên nhân cứu rỗi của con người. Đó là điều quan trọng mà mọi người có thể học được qua bài dụ ngôn hôm nay. Amen.

Chúng con yêu quí,

Lại một lần nữa chúng con được nghe Chúa nói về một vườn nho. Vườn nho là một hình ảnh rất quen thuộc đối với người Do Thái. Chúa đã dùng hình ảnh quen thuộc này để nói cho chúng ta về Nước Trời.

1. Đây là dụ ngôn tương đối dễ hiểu. Ý nghĩa dụ ngôn này như sau: Thiên Chúa là chủ vườn nho. Vườn nho lúc đầu được dùng để chỉ dân Do Thái.

Dân Do Thái được Chúa chọn làm dân riêng. Đây ta hãy nghe tiên tri Isaia mô tả: “Vườn nho của Đức Chúa các đạo binh, chính là nhà Ít-ra-en đó; cây nho Chúa mến yêu quý chuộng, ấy chính là người xứ Giu-đa. Người những mong họ sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than.” (1Is 5,7)

Lịch sử dân Do Thái là lịch sử tình yêu thương của Chúa. Vì yêu thương Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Vì yêu thương Chúa đã dành sẵn cho họ một đất nước. Vì yêu thương Chúa bảo vệ họ khỏi sự quấy phá của các nước lân bang. Vì yêu thương Chúa đã sai các tiên tri đến dạy dỗ họ. Quả thật dân Do Thái là một vườn nho được Chúa trồng, chăm sóc từng li từng tí. Từ rào dậu chung quanh đến xây tháp canh giữ. Từ xây bồn ép nho đến tưới bón cắt tỉa. Nhưng sự thương yêu của Chúa được đáp lại bằng sự phản bội. Người Do Thái không công nhận quyền làm chủ của Chúa. Họ giết các tiên tri được sai đến dạy dỗ họ. Họ còn giết cả Chúa Giêsu là Con Một Thiên Chúa để chiếm lấy vườn nho làm của riêng họ.

Họ tưởng họ giết được Chúa Giêsu là họ sẽ được toại nguyện.

Quả thực dụ ngôn cho thấy họ đã lầm, một sự lầm lẩn không thể sửa sai. Thiên Chúa đâu có để cho họ muốn làm gì thì làm. Tới một lúc nào đó theo đúng chương trình Chúa đã ấn định thì Ngài sẽ hành động. Khi Ngài đã ra tay uy quyền thì mọi sự sẽ phải vâng phục và lúc đó mọi người sẽ thấy chính Ngài mới là Đấng chiến thắng cuối cùng.

Ý nghĩa câu chuyện dụ ngôn hôm nay là như thế.

2. Bài Học.

Câu chuyện vườn nho không phải chỉ liên quan đến những người Do Thái mà còn lên quan đến tất cả chúng ta. Vườn nho ngày xưa là nước Do thái. Ngày nay vườn nho là Giáo Hội, là gia đình, là trường học. Chúa trao vườn nho cho con người canh tác. Tiếc rằng có nhiều người không hiểu được điều đó, nên đã chối bỏ quyền Chúa làm chủ đời mình. Vì xua đuổi Chúa nên ma quỷ đã xâm nhập cuộc đời họ. Và khi để cho ma quỉ làm chủ cuộc đời chúng ta có thể hiểu được cuộc sống sẽ như thế nào.

Hôm đó ở Tréblinka, đại tá SS.Wwirth chỉ huy trưởng trại giam tù binh của quốc xã Đức nổi giận vì phòng hơi ngạt lại hỏng vào đúng khi có tin điện: một chiếc tàu chở người Do thái từ Varsovie tới, và bất hạnh hơn nữa chính là ngày Himler và Erich đến thanh tra trại.

Không làm sao được hắn phải tập trung tất cả các xe có hơi ngạt, nhưng mỗi lần chỉ được 20 người. Thời gian không cho phép chậm trễ, hắn bắt các nạn nhân giơ tay lên trời để cho có thể nhét thêm người. Vào phút chót, hắn khám phá ra còn hai phần trống giữa các đầu người và trần xe, hắn cho nhét thêm chục đứa trẻ.

Khi xe đã đầy tới mức tối đa, quân Dức đóng cửa lại cho động cơ chạy, chỉ trong khoảng một phút, không khí bên trong đầy oxyde da carbonne. Khi xe tiến vào Tréblinka để ngừng lại trước các hố đào sẵn, tất cả nạn nhân đều đã chết ngạt. Bấy giờ họ chỉ việc đẩy xác xuống, lục lọi miệng để nhổ răng bạc và vàng, rồi sau đó lấp hố.

Đến một ngày nào đó, chúng ta phải tường trình về công việc “vườn nho” mà Chúa đã trao phó cho ta. Đức Hồng Y Suhard đã nói: “Chúng ta chịu trách nhiệm về những điều chúng ta đã làm, đã không làm, hay đã cản trở không cho người khác làm”.

Khi con tàu khổng lồ mang tên Titanic vừa được xuất xưởng và hạ thủy, người ta có thể đọc thấy dọc theo sườn con tầu những câu khẩu hiệu kiêu căng được vẽ sơn thật lớn, ngạo nghễ như sau:

No God, No Pope! (Không có Chúa, cũng chẳng có Giáo Hoàng!) Le Christ lui même, ne le fera pas sombrer. Ni le ciel, ni la terre ne peut nous engloutir! (Ngay đến Đức Ki-tô cũng không tài nào đánh đắm con tàu này. Cả trời lẫn đất cũng không thể khiến chúng ta bị nhận chìm!).

Ngay khi ấy, một trong các công nhân đóng tàu, vốn là một người Công Giáo ở Dublin đã ghi vào trong nhật ký như một lời tiên tri: “Vì những tội xúc phạm ghê gớm đó, tôi tin Titanic sẽ không bao giờ tới được New York”

Và quả không sai, vào lúc 0 giờ 5 phút ngày 14.4.1912, đúng ngày Chúa Nhật Quasimodo sau lễ Phục Sinh, tàu Titanic đã chạm mạnh vào một tảng băng khổng lồ giữa đại dương làm thủng một lỗ lớn làm con tàu bị gãy đôi. Người ta chỉ vớt được 705 người sống sót, còn 1.502 người đã chết theo con tàu kiêu hãnh…

Sau đó mấy ngày, một tờ báo lớn ở Anh đưa tin kèm theo 2 bức tranh hí họa đầy ý nghĩa: Hình vẽ con tàu và tảng băng (sự yếu đuối của con người và sức mạnh của Thiên Chúa) và hình vẽ một người đàn ông nhường chiếc phao cứu hộ cho một bà đang bế con (sự yếu đuối của thiên nhiên và sức mạnh của con người).

Muốn cuộc đời luôn được bình an thì phải để Chúa hướng dẫn.

Một thượng nghị sĩ lịch lãm ở miền Nam nước Pháp đến Paris. Ông thuê một phòng trong khách sạn uy tín, và trả tiền phòng luôn một tháng. Viên quản lý khách sạn hỏi:

– Ông có muốn ghi biên lai không ?

Thượng nghị sĩ đáp:

– Không cần thiết đâu, có Chúa làm chứng chuyện này mà.

Viên quản lý tỏ vẻ ngạc nhiên:

– Cái gì! Thời đại này mà ông còn tin có Chúa ư ?

– Ô tin chứ. Vậy ông không tin à ?

– Tôi không tin, thưa ngài.

– Nếu thế thì tốt nhất ông hãy ghi biên lai cho tôi đi. (Liguorian)

Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã trao cho chúng con làm những công việc của Chúa, xin cho chúng con luôn biết mau mắn chu toàn.

Nếu Chúa gởi đến cho chúng con những ơn lành hồn xác, xin Chúa dạy chúng con biết sử dụng trong tinh thần biết ơn, và liên đới với anh em trong tinh thần chia sẻ, vì đó là con đang làm theo ý Chúa. Amen.

“Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông”(Mt 21,32)

Anh chị em thân mến,

Suốt mấy tuần vừa qua, chúng ta đã nói với nhau về những đức tính cần có trong đời sống cộng đoàn. Bắt đầu từ hôm nay chúng ta nói với nhau về một vấn đề khác, cũng liên quan tới địa vị làm con Thiên Chúa, nhưng dưới một khía cạnh tích cực hơn: “Chúng ta phải sống như thế nào để xứng với địa vị làm con Thiên Chúa của chúng ta ?”.

A- Chúng ta hãy nghe bài dụ ngôn hôm nay:

Một người kia có hai người con. Hai người con, con của cùng một người cha. Ở đây chúng ta thấy Chúa cố ý không đề cập đến địa vị hay ngôi thứ của hai người con này. Chúa làm như thế với một chủ ý rõ rệt là cho người ta thấy trong cương vị làm cha thì ông dành cho hai người con một tình yêu y như nhau, và đồng thời cũng cho chúng ta thấy trong cương vị làm con thì cả hai đều có một giá trị như nhau trước mặt cha của mình.

Để anh chị em hiểu rõ được điều này, tôi xin lấy một thí dụ. Đây là thí dụ nằm ở trong kho tàng văn chương của chúng ta. Truyện kể như thế này. Có một ông nhà nho kia có đến hai bà vợ. Thông thường thì chúng ta thấy trong hai bà thì phải có một bà làm “cả” một bà làm “lẽ” hay “thứ”. Nhưng đối với ông nhà nho này thì ông ta muốn coi hai bà vợ như nhau, không bà nào hơn, không bà nào kém. Chính vì thế mà một hôm khi có người hỏi ông bà nào là cả bà nào là thứ thì ông trả lời “Cả hai vợ đều là vợ cả” Một câu trả lời có tính cách chơi chữ nhưng nó cũng nói lên được một cái gì có tích cách “cào bằng” trong ý nghĩa về một thực tế trong cuộc sống của người này.

Vậy thì trong dụ ngôn hai người con, chúng ta cũng thấy một ý nghĩa tương tự như thế. Cả hai người con đều là “con cả” và cùng là con của một người cha. Người cha này yêu thương hai người con y như nhau….đối xử với hai người một cách đồng đều. Và khi đã cư xử như thế thì chắc chắn ông cũng thầm mong là ông sẽ được cả hai người đáp lại tình yêu của mình cũng bằng một tình như nhau.

Mong thì là như thế, nhưng trong thực tế có được như vậy hay không thì lại là một truyện khác.

 Lúc đầu khi ông kêu gọi người con thứ nhất. Nó đã đáp lại một cách cộc cằn và cứ bên ngoài mà xét thì nó thật đáng lên án. Nhưng sau đó nó hối hận rồi nó sửa lại lỗi lầm của mình không phải bằng lời nói nhưng bằng việc làm. “Nó hối hận và đi làm”(Mt 21,29).

Sau đó người cha cũng nói những lời y hệt như thế với người con thứ hai. Thái độ lúc đầu của người con thứ hai thật dễ thương “Vâng, thưa cha, con đi”(Mt 21,30). Thật là đẹp tuyệt vời. Và cứ theo cách bên ngoài mà nói thì chắc là chúng ta phải khen người con thứ hai này. Thế nhưng những cái đẹp ban đầu đó lại không được tiếp tục đẹp. Nó đã nhanh chóng đổi chiều. Người con thứ hai đã nuốt lời một cách không hổ thẹn.

Như vậy chúng ta thấy cả hai người con cùng được mời gọi bởi cùng một người cha….để làm cùng một công việc và làm trong cùng một vườn nho.

Thế nhưng, bằng ấy cái cùng chưa đủ để có thêm những cái cùng khác:

Qua hai cách đối xử của hai người con, người ta đã được chứng kiến một sự đảo lộn giá trị đáng cho chúng ta phải suy nghĩ.

Cái mà người ta tưởng là xấu lại biến thành tốt và cái mà người ta tưởng là tốt lại trở thành tồi tệ.

Kết thúc câu chuyện Chúa Giêsu đòi những người nghe phải tự lượng giá. Và câu trả lời đã đúng như Chúa mong đợi.

Nếu câu truyện kết thúc ở đây thì có lẽ chúng ta chẳng có gì phải bàn thêm. Đàng này sau khi nhận được câu trả lời của những người nghe, Chúa đưa ra những lời cảnh cáo khá nặng. Chúa nói như thế nào thì tất cả chúng ta đã nghe.

B. Chúng ta tự hỏi: Chúa nhắm điều gì khi đưa ra những lời cảnh cáo nặng như thế ? Ai là hiện thân cho người con thứ nhất và ai là hiện thân cho người con thứ ai và ai là hiện thân cho người cha trong câu chuyện.

Chúa không đưa ra một câu trả lời làm sẵn. Nhưng rõ ràng Chúa muốn vẽ ra một bức tranh gồm hai hạng người mà cả hai đều bất toàn mặc dầu trong đó có một hạng tốt hơn. Rõ ràng trong câu truyện này cả hai người con đều không làm hài lòng người cha vì cả hai đều không làm cho ông có được một niềm vui trọn vẹn. Hạng người thứ nhất là hạng người làm nhiều hơn là nói. Hạng người thứ hai là những người chỉ nói mà không làm. Họ hứa thật nhiều nhưng làm thì chẳng có gì cả.

Vậy người con hoàn hảo đối với Chúa là người con nào ? Thưa là người sẵn sàng chấp nhận mệnh lệnh của cha với thái độ vâng phục và kính trọng, chấp nhận trọn vẹn và không thắc mắc. Chúng ta có thể nói họ là những người mà lời nói và làm luôn đi đôi với nhau. Đây mới là những người mà Thiên Chúa mong đợi.

Nhưng ai là những người như thế ?

Chẳng cần phải dài dòng chúng ta cũng có thể tìm ra câu trả lời. Đó là những người hết lòng yêu mến Chúa đồng thời cũng hết lòng yêu mến anh em đồng loại của mình.

+ Bây giờ đến lượt chúng ta:

Tôi phải làm gì trước những đòi hỏi của Chúa ?

– Đối với Chúa

Một linh mục ở một xứ đạo kia khi làm thống kê trong họ đạo của mình đã hỏi một người chủ gia đình như sau:

– Ở nhà có bao giờ gia đình cầu nguyện chung với nhau không ?

– Thưa Cha chúng con không có giờ.

– Giả như anh và gia đình biết một người trong gia đình sẽ bị bệnh nếu không ai cầu nguyện cho người đó thì thử hỏi anh và gia đình có cầu nguyện không ?

– Ồ con đoán là lúc đó gia đình chúng con sẽ cầu nguyện.

– Giả như anh biết một ngày nào đó vì gia đình lơ là trong việc cầu nguyện mà một tai họa sẽ xảy đến cho gia đình thì lúc đó anh và gia đình có cầu nguyện không ?

– Tất nhiên là chúng con phải cầu nguyện rồi.

– Giả như mỗi ngày anh quên cầu nguyện, giáo luật sẽ phạt 5 dollars. Lúc đó anh và các con có dám sao lãng việc cầu nguyện không ?

– Chắc là chúng con sẽ cầu nguyện nhưng ý của những câu hỏi cha hỏi chúng con mãi như thế là gì ?

– Như vậy vấn đề ở đây không phải là không có thời giờ. Anh có thể tìm được thời giờ. Vấn đề ở đây là anh đã quá coi thường việc cầu nguyện: Coi thường hơn tiền bạc, hơn sức khỏe vv và vv. Như vậy vấn đề ở đây là anh và gia đình anh có thấy được những hồng ân Chúa ban cho anh cũng như gia đình anh qua việc cầu nguyện hay không. Nếu thấy được thì khỏi cần phải nói, không phải chỉ cầu nguyện mà chắc là anh sẽ còn làm hơn thế nữa. Còn nếu không thì chắc là chẳng bao giờ anh cầu nguyện dù chỉ là một kinh!

– Còn đối với những anh em của tôi thì sao ? Phải Yêu Thương họ.

Thánh Têrêxa HĐGS nói: “Lòng yêu mến không cốt ở những tình cảm, nhưng cốt ở việc làm”

Một vị Giám mục kiểm tra khả năng của một nhóm ứng viên xin lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Ngài hỏi:

– Bằng vào dấu chỉ nào các người khác nhận ra các con là người Công giáo ?

Không có tiếng trả lời. Rõ ràng không có ai ngờ một câu hỏi như thế. Vị Giám mục lập lại câu hỏi và ngài lập lại thêm một lần nữa, lần này ngài làm dấu thánh giá có ý mách nước cho các người dự tòng một câu trả lời đúng. Bất. chợt một ứng viên trả lời:

– Đó là “Tình yêu” .

Vị Giám mục rất ngạc nhiên! Khi ngài sắp mở miệng nói “Sai “, ngài bỗng kịp thời ngậm miệng lại.

Thiếu nhi chúng con yêu quí,

Chúng ta vừa nghe một dụ ngôn nữa của Chúa Giêsu.

Cha đố chúng con qua dụ ngôn hôm nay Chúa muốn nói với chúng ta điều gì ?

Hơi khó phải không chúng con.

Vậy cha cắt nghĩa cho chúng con.

Theo Cha thì qua bài dụ ngôn hôm nay Chúa muốn dạy chúng ta một đều thật quan trọng. Đó là lòng hối cải.
Cha hỏi chúng con: hai người con trong bài Tin Mừng hôm nay là những người như thế nào ? Có phải là những người con ngoan ngoãn không ?

Chắc là không, phải không chúng con ?

Lý do vì cả hai đã làm buồn lòng cha của mình. Cả hai đã không mau mắn vâng lời cha mà đi làm ngay.
Rất may là người con thứ nhất đã hối hận và đi làm. Còn người con thứ hai khi được cha sai thì “ok” ngay nhưng rồi lại không đi.
Cha hỏi chúng con: thế thì người con nào đã làm người cha vui lòng ?

– Thưa người con thứ nhất

– Điều gì đã làm cho người thứ nhất thay đổi như vậy ?

– Thưa “sự hối hận”

– Rất chính xác. Chúng con giỏi.

Đúng là sự hối hận hay là lòng hối cải có một giá trị rất đẹp trong cuộc sống.

1. Trước hết lòng hối cải có thể làm cuộc sống của con người dễ trở nên tốt hơn.

Lý do: lòng hối cải có thể đem lại những điều thật bất ngờ.

Tin Mừng có nhiều truyện cho chúng ta thấy điều đó. Cha có thể kể ra cho chúng con những người này: Maria Mađalêna, Giakêu, người thiếu phụ xứ Samaria, người đàn bà ngoại tình, anh trộm lành.. . tất cả là những người đã đổi đời nhờ gặp Chúa Giêsu và đã hối hận về cuộc đời của mình. Nếu họ đã không hối hận chắc chắn cuộc sống của họ đã không trở nên tốt đẹp như vậy.

Cha kể cho chúng con nghe câu chuyện này:

Một thương gia trong một thị trấn nhỏ nọ có hai người con trai sinh đôi. Hai chàng trai cùng làm việc tại cửa hàng của cha mình. Khi ông qua đời, họ thay ông trông coi cửa hàng đó. Mọi việc đều êm đẹp cho đến một ngày kia, khi một tờ giấy bạc biến mất. Người em đã để tờ giấy bạc đó trên máy đếm tiền rồi đi ra ngoài với khách hàng. Khi anh quay lại, tờ giấy bạc đã biến mất. Người em hỏi người anh:

– Anh có thấy tờ giấy bạc đâu không ?

– Không – người anh đáp.

Tuy thế. Người em vẫn không ngưng tìm kiếm và gạn hỏi.

– Anh không thể không đụng đến nó. Tờ giấy bạc không thể tự đứng dậy và chạy đi được! Chắc chắn anh phải thấy nó!

Sự buộc tội phảng phất trong giọng nói của người em. Căng thẳng bắt đầu tăng lên giữa hai anh em họ. Sự oán giận cũng theo đấy mà len vào. Không lâu sau một hố ngăn cách gay gắt và sâu thắm đã chia cách hai chàng trai trẻ. Họ không thèm nói với nhau một lời nào. Cuối cùng họ quyết định không làm chung với nhau và một bức tường ngăn cách đã được xây ngay giữa cửa hàng. Sự thù địch và oán giận cũng lớn lên tiếp theo 20 năm sau đó, lan đến cả gia đình của họ. Một ngày nọ, một người đàn ông đỗ xe ngay trước của hàng. Ông ta bước vào và hỏi người bán hàng:

– Anh đã ở đây bao lâu rồi ?

Người bán hàng đáp rằng anh đã ở đây cả cuộc đời. Vị khách nói tiếp:

Tôi phải nói với anh điều này. 20 năm trước tôi đang đi xe lửa và tạt vào thị trấn này. Lúc đó tôi đã không ăn gì suốt ba ngày. Khi tôi đến đây bằng cửa sau và thấy tờ giấy bạc trên máy tính tiền, tôi đã bỏ vào túi mình rồi ra ngoài. Những năm qua tôi không thể quên điều đó. Tôi biết nó không phải là món tiền lớn nhưng tôi phải quay lại đây và xin anh thứ lỗi.

Người đàn ông lạ mặt ngạc nhiên khi thấy những giọt nước mắt lăn trên má của người bán hàng trạc tuổi trung niên này.

– Ông có vui lòng sang cửa hàng bên và kể lại chuyện này cho người đàn ông trong cửa hàng đó được không ? – anh ta đề nghị.

Rồi người đàn ông lạ càng ngạc nhiên hơn khi thấy hai người đàn ông trung niên, trông rất giống nhau, ôm nhau khóc ngay trước cửa hàng. Sau 20 năm, rạn nứt giữa họ đã được hàn gắn. Bức tường thù hận chia cắt hai anh em họ đã được đập bỏ. (Loren Fischer)

Đó chúng con thấy sự hối cải đã đem lại kết quả đẹp đẽ như thế nào!

2. Hơn thế nữa sự hối cải còn giúp cho người ta nên thánh.

Chúng con thấy: tội thì ai cũng có. Có một tác giả nổi tiếng bên nước Nga nói như thế này: “Chỉ có hai hạng người sau đây không có lỗi lầm: những người còn trong bụng mẹ chưa sinh ra và những người đã bỏ vào quan tài chờ ngày mang đi chôn”. Đó là thân phận chung của mọi người. Chúng ta hãy nhìn vào hai nhân vật quen thuộc trong Thánh Kinh: Phêrô và Giuđa. Tội chối Chúa và tội bán Chúa cũng gần ngang nhau. Vậy mà số phận hai người lại khác hẳn nhau vì Phêrô nhờ hối cải mà được cứu sống, còn Giuđa thì chết trong tuyệt vọng.

Đối với chúng ta, việc nên thánh của chúng ta chỉ có thể đi ngang qua hai con đường: Hoặc bằng con đường trong trắng, hoặc bằng con đường hoán cải.

Những người đến với Chúa bằng con đường trong trắng có lẽ không nhiều. Chỉ có một số tâm hồn ưu tú mới có thể đi qua cuộc đời mà không vướng mắc gì nhiều, không bị bụi đường làm lấp láp nhem nhuốc. Chẳng hạn Têrêsa Lisieux. Louis Gonzaga, Đaminh Savio. . .

Còn con đường thứ hai: Con đường hoán cải là con đường chung mở rộng cho đa số. Kể cả các thánh lớn cũng cần đến con đường này.

Phêrô đã chối Chúa nhiều lần nhưng vẫn được Chúa đặt làm đoàn trưởng các Tông đồ. Phaolô đã tham gia bắt bớ Kitô hữu không nương tay trước khi trở thành Tông đồ của lương dân. Augustinô đã sống mấy chục năm buông thả trước khi khóc tội mình đến cạn cả nước mắt. Phanxicô Assisi, sau một thời tuổi trẻ ham chơi, đã dấn thân vào con đương hẹp của Tin Mừng. Và ngài coi ngày vào dòng của ngài là bước khởi đầu của một đời sám hối.

Chúng ta hãy cám ơn Chúa vì ngoài con đường trong trắng Chúa còn cho chúng ta con đường sám hối để đến với Thiên Chúa. Nếu không có con đường thứ hai này thì số phận chúng ta không biết sẽ ra sao. Chắc chắn là sẽ rất bi đát vì không có lối thoát. Thật vậy chẳng có mấy tín hữu còn giữ được ơn thánh tẩy trọn vẹn như đã hứa. Trong nghi thức thánh tẩy có phần trao áo trắng và nến sáng cho người được Rửa tội. Khi trao thì chủ tế căn dặn: Con hãy giữ áo này luôn trong trắng và ngọn lửa này luôn cháy sáng, cho tới khi Chúa trở lại. Lời nhắn nhủ này hàm chứa một sự cam kết của người mới được tái sinh. Nhưng thử hỏi trong thực tế có mấy người còn giữ được áo trắng và đến sáng cho tới ngày gặp Chúa ở cuối đời mình. Có lẽ khá họa hiếm.

Thật may mắn, chính Chúa đã gỡ kẹt cho chúng ta. Tội lỗi có đó, mạnh đó…nhưng còn có ơn tha thứ. Ơn đó luôn ở trong tầm tay của mỗi người. Bao lâu còn có lòng hối cải thì bấy lâu còn có ơn tha thứ. Chúa không bao giờ nỡ bẻ gẫy cây sậy đã dập và dập tắt tim đèn còn khói. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta chỉ một lần. Nhưng Ngài tái tạo chúng ta trong ơn tha thứ muôn ngàn lần, hầu như mỗi ngày. Thiên Chúa không biết mỏi mệt, chán nản. Có thế thì Ngài mới là Thiên Chúa.

Mẹ thánh Têrêsa nói: “Nếu chúng ta mắc phải lỗi lầm hãy tìm đến Chúa và nói: “Con xin lỗi, con thực sự hối tiếc”. Chúa là một Người Cha khoan dung. Lòng nhân từ của Ngài còn lớn hơn tội lỗi của chúng ta. Ngài sẽ tha thứ cho ta. Amen.