Anh chị em thân mến,

Bài dụ ngôn chúng ta vừa nghe là những lời dạy của Chúa nói về lòng tốt và tình thương của Người. Chúng ta thấy rất rõ điều này qua một bài dụ ngôn đặc biệt Chúa dùng để cắt nghĩa cho chúng ta.

I. Bài dụ ngôn

1. Một người kia có một vườn nho.

– Ông ta là chủ của vườn nho đó cho nên ông ta có quyền canh tác trên vườn nho đó để thu hoa lợi

– Diện tích vườn nho có lẽ phải lớn cho nên ông phải thuê người làm cho ông.

– Ở đây chúng ta nên lưu ý một chút về cách tính giờ của người Do Thái:

Ngày làm việc của người Do Thái bắt đầu từ lúc mặt trời mọc và kết thúc vào lúc mặt trời lặn. Và căn cứ vào đó thì chúng ta sẽ có một thời biểu tương ứng như thế này:

Giờ thứ 1, thứ 3, thứ 6, thứ 9 và thứ 11, tương đương với 6 giờ, 9 giờ,12 giờ,15 giờ,17 giờ, và kết thúc lúc 18 giờ.

– Có 5 đợt thuê thợ tất cả.

Đợt đầu có sự mặc cả rõ ràng về giá cả 1đ/một ngày công.

Các đợt sau thì không có sự mặc cả gì.

– Chiều đến: trả lương.

Cách thức trả lương có khác thường….bắt đầu từ người đến làm việc sau cùng đến người làm đầu tiên.

– Chính cách thức trả lương như thế đã làm nảy sinh ra sự phen bì giữa những người thợ được thuê làm trong cùng một vườn nho.

– Người cuối cùng vui vì thái độ đầy lòng yêu thương và quảng đại của chủ.

– Những người đến làm trước buồn vì cảm thấy mình như bị thua thiệt.

2. Vấn đề đặt ra ở đây là ông chủ làm như thế có công bằng không. Ta phải trả lời là có.

– Này bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi một đồng sao ?(Mt 20,13)

– Ông đã đối xử với họ theo lẽ công bằng thương mại. Luật pháp gọi là công bằng giao hoán.

– Về phương diện này thì ông chủ hợp lý và hợp pháp

– Việc ông chủ đối xử khác, khác hơn lẽ công bằng giao hoán thì lại là vấn đề khác. Nó đã vượt ra ngoài phạm vi công bằng. Nó đã vươn lên tới một bình diện cao hơn…đó là lòng Bác ái yêu thương và ông ta có quyền làm như thế.

Vậy thì khi kể dụ ngôn này Chúa muốn dạy chúng ta điều gì .

II. Bài học

1. Muốn hiểu được bài học Chúa muốn dạy qua bài dụ ngôn hôm nay, chúng ta lại phải trở về với những hoàn cảnh của nó.

Tin Mừng kể lại trước khi nói dụ ngôn này thì có một người thanh niên đến gặp Chúa và muốn xin được làm môn đệ của Ngài. Chúa bảo anh ta hãy trở về bán tất cả những gì anh có rồi phân phát cho những người nghèo khó và Chúa coi đó như một điều kiện phải có để Ngài chấp nhận anh ta. Sự đòi hỏi của Chúa làm cho anh ta chùn bước. Lý do là vì anh có nhiều của cải. Của cải đã níu kéo quá mạnh, thành thử anh ta đã bỏ cuộc. Nhưng câu chuyện chưa chấm dứt tại đây.

Sau khi người thanh niên bỏ đi thì ông Phêrô….lại ông Phêrô. Ông Phêrô đứng ra đặt vấn đề với Chúa. Ông nói như sau: “Thưa Thầy, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, chúng con sẽ được gì”(Mt 19,27)

Câu hỏi của Phêrô sặc mùi thương mại trần thế. Ông muốn Chúa phải nói rõ cho các ông biết Chúa Chúa sẽ đối xử với các ông thế nào trước những hy sinh từ bỏ của họ. “Chúng con sẽ được gì ?”

Chúa không để cho các ông ấy phải thất vọng. Chúa đã trả lời. Chúa không lẩn tránh vấn đề. Và câu trả lời của Chúa thật là tuyệt diệu. Tuyệt diệu ở chỗ nó vừa thỏa mãn được vấn đề các tông đồ đặt ra với Chúa, lại vừa có sức nâng tầm nhìn của các môn đệ lên tới một bình diện cao hơn.

“Ai vì danh Ta mà từ bỏ Cha Mẹ, anh em, con cái, nhà cửa, ruộng đất thì sẽ được gấp trăm ở đời này và ….tiếng thật quan trọng…Và được sự sống đời đời.”(Mt 19,29)

Sự sống đời đời. Đó là một phần thưởng vô cùng quí giá mà không có một giá trị trần thế nào có thể đổi chác được. Phần thưởng đó là do ơn lộc của Chúa cũng như do lòng quảng đại vô bờ vô bến của Ngài.

Trong nước của Thiên Chúa sẽ không có giao hoán đổi chác, phần thưởng sẽ không dựa vào lao động như thước đo.

Phần thưởng trong nước Thiên Chúa không được tính theo số lượng giờ giấc nhưng trước hết phải căn cứ vào niềm tin: Tin vào sự quảng đại và tình thương bao la của Thiên Chúa và sau là trung thành với niềm tin đó.

Vì thế dù chỉ được Chúa kêu gọi một phút giây trước giờ tàn của cuộc sống thì sự trung thành cũng vẫn cần thiết.

Con người không có quyền ghen tị với sự quảng đại của Thiên Chúa. Nếu một ai đó thấy cuộc đời của mình không được Chúa đối xử lại một cách quảng đại, thì lý do không phải tại Chúa mà họ phải hồi tâm trở lại với lòng mình xem mình đã sống với Chúa như thế nào:

          Ông chủ trong dụ ngôn đã tính toán với những ai đã muốn tính toán với ông. Nhưng ông lại rất quảng đại đối với những ai tin tưởng vào ông.

Để minh họa điều này tôi xin mời anh chị em nghe một câu chuyện. Câu chuyện này do văn hào Tagore viết ra. Ông là một người không có đạo nhưng những gì ông viết rất phù hợp với những Lời của Chúa trong Phúc âm.

Câu chuyện có tựa đề là “Người ăn xin”

Con đi ăn xin từng nhà trên con đường làng. Bỗng con thấy một cỗ xe bằng vàng đang từ xa đi tới….như một giấc mơ, giấc mơ huy hoàng. Con tự hỏi ông vua nào mà lại lộng lẫy như thế ? Lòng hy vọng trào lên trong lòng con. Con tự nghĩ:

– Thế là từ nay đời mình sẽ hết khổ!

Và con chuẩn bị sẵn sàng chờ Ngài đến….tay Ngài bung những đồng tiền vàng vung vãi trong đám cát bụi bên đường.

Và cỗ xe dừng lại nơi con đang đứng. Cái nhìn của đức vua đậu lại trên con….rồi Ngài bước xuống, miệng mỉm cười. Con cảm thấy như cơ may của đời mình đã tới.

Bỗng dưng con thấy đức vua chìa tay ra và hỏi

– Con có gì cho ta không ?

Con bối rối ngỡ ngàng….Con từ từ thò tay vào trong bị rút ra một hạt lúa mì và dâng cho Ngài. Nhận hạt lúa mì xong, Ngài lên xe và tiếp tục đi.

Chiều đến….khi dốc những hạt lúa trong bị ra…thì thật ngỡ ngàng biết bao.

Một hạt vàng óng ánh nằm giữa những hạt lúa mì khác.

Con nức nở khóc và tiếc rẻ. Con tự nguyền rủa chính mình:

– Tại sao mình đã không dâng cả cho đức vua tất cả những hạt lúa mì mình có.

Có lẽ cuộc sống của chúng ta mỗi người nhiều khi cũng giống như thế. Chúng ta rất hẹp hòi với Chúa và với anh em. Rồi nhiều khi chúng ta thấy người nọ người kia được Chúa đối xử hơn chúng ta, thay vì chúng ta bình tâm xét lại xem chúng ta đã sống cho Chúa như thế nào, chúng ta lại đâm ra ghen tương phen bì với anh em và cả với Chúa nữa.

Giờ đây xin Chúa điều chỉnh lại cách sống của chúng ta sao cho những ngày tháng chúng ta sống trên đời là những ngày tháng tràn ngập niềm vui vì đó là những ngày chúng ta sống chan hòa với Chúa và với anh chị em chúng ta Amen.

Thiếu nhi chúng con yêu quí.

Chúng ta vừa nghe một bài dụ ngôn rất hay của Chúa Giêsu.

Chúng con thấy ông chủ vườn nho trong bài Tin Mừng hôm nay thế nào ?

– Thưa ông là một người tốt.

– Ông tốt ở chỗ nào chúng con ?

Đây cha cắt nghĩa cho chúng con. Ông tốt vì ông giúp nhiều người thất nghiệp có công ăn việc làm. Ông tốt vì ông đã đối xử với họ rất công bằng và bác ái.

– Thế nào là công bằng chúng con ?

Thưa ông công bằng vì ông đã trả công cho những người đã thoả thuận với ông đúng theo những gì họ đã giao ước thoả thuận với ông. Ông không để họ thua thiệt theo lẽ công bằng những gì ông đã thoả thuận với họ. Họ thoả thuận với ông bao nhiêu ông đã trả đúng như thế. Công mỗi người mỗi ngày một đồng. Với sồ tiền này theo thời giá và hoàn cảnh công nhân lúc đó: họ có thể đủ để nuôi sống họ và gia đình một ngày. Ông chủ tốt vì ông đã tạo việc làm cho họ và họ đã có tiền để nuôi sinh sống.

Thế ông còn tốt ở chỗ nào nữa chúng con ?

– Ông còn tốt ở chỗ ông đã đi xa hơn sự công bằng. Ông đã tự cho mình có trách nhiệm phải tìm giúp những người thất nghiệp “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết ?” Họ đáp: “Vì không ai mướn chúng tôi” Ông bảo họ: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!”(Mt 20,7-8). Ông cảm thấy thương những người không được ai thuê mướn.

Tới đây cha mới thấy ông chủ này không phải là người thường tình như những người khác trong xã hội.

Tại sao cha nói thế ?

Trong cuộc sống hằng ngày chúng con thấy người ta đối xử công bằng với nhau đã là điều tốt đẹp lắm rồi. Nhưng ở đây cha thấy, từ việc ông đã sống hết sức công bằng với mọi người, ông đã vượt qua cuộc sống cọng bằng thường tình để vươn lên cao, sống một đời sống mới, một đời sống cao hơn những cuộc sống thường tình của nhiều người. Chúng ta gọi cuộc sống ấy là cuộc sống bác ái yêu thương. Đây là cuộc sống mà chính Chúa Giêsu đã luôn sống và Chúa cũng muốn cho mọi người sống như thế.

Nếu chúng con hỏi cha: Tại sao cha nói như thế ? Thì đây chúng con hãy nhìn vào cách ông trả lương cho những người thợ đã vào làm vườn nho cho ông chúng con sẽ biết.

Tin Mừng kể: “Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: “Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất”. Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn gia chủ: “Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt”. Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền sao ? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao ? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức ?”(Mt 20,8-16)

Hay quá chúng con! Ông chủ này thật là một người rất khôn ngoan. Ông đã làm cho những người có đầu óc ích kỷ hay ghen tương phải “câm miệng” vì ông đã đối xử thật công bằng hợp tình hợp lý với họ. Còn việc ông tốt bụng, ông cư xứ quảng đại đối với những người làm sau chót đó là quyền của ông. Ông đã sống công bằng với những người muốn công bằng khi thoả thuận một quan tiền trước khi vào làm vườn nho. Và ông đã sống bác ái yêu thương với những người làm việc sau cùng. Ông đã hoàn toàn có lý.

Tới đây thì cha thấy bài học Chúa muốn dạy mọi người đã rõ. Chúa muốn mọi người bắt chước Chúa sống yêu thương với tất cả mọi người như Chúa đã yêu thương chúng ta.

Thói thường từ bao nhiêu ngàn năm nay, con người vẫn thường để cho những đố kỵ, ghen ghét lẫn nhau chi phối cuộc sống của mình. “Họ lẩm bẩm kêu trách chủ rằng: bọn sau chỉ làm một giờ mà ông trả bằng chúng tôi sao ?”. Ông buộc lòng phải sửa trị thói ghen tị đó bằng cách vạch ra cho họ thấy lòng bác ái cao cả của ông: “Chẳng lẽ tôi không có quyền cho của cải của tôi sao ? Hay vì bạn thấy lòng tốt của tôi, mà bạn ghen tức ư!”

Ông chủ không trả tiền thêm cho bọn thợ làm cả ngày, không phải vì ông keo kiệt, bóc lột. Nếu ông keo kiệt bóc lột, ông chẳng hậu đãi các thợ làm ít giờ. Nhưng ông phải giữ đúng công bằng vì không cho phép lòng tham của họ vơ vét thêm, làm dịp cho họ ăn chơi hoang phí.

Vâng! chỉ có cuộc sống bác ái yêu thương mới là cuộc sống đẹp lòng Chúa. Hay nói cụ thể hơn, chỉ khi nào chúng ta biết sống yêu thương chúng ta mới xứng đáng là con cái của Chúa. Thánh Gioan đã nói rất hay:” Thiên Chúa là tình yêu”

Chúng con hãy nghe câu chuyện này. Câu chuyện do chính mẹ thánh Têrêsa Calcutta kể:

Đêm hôm đó, có người tới nhà chúng tôi, báo cho tôi biết một gia đình Hindu tám đứa con đã nhiều ngày không được ăn gì. Họ không có gì ăn.

Tôi lấy cơm đủ cho họ một bữa ăn, đem tới nhà họ. Tôi thấy những khuôn mặt đói khát, thấy mắt của những đứa con đã sưng húp. Tình cảnh quá đáng thương!

Người mẹ nhận cơm trên tay tôi, chia lấy nửa phần cơm rồi bước ra. Lát sau chị trở về tôi hỏi:

– Chị đi đâu, làm gì vậy ?

Nàng trả lời:

– Họ cũng đang đói ?

“Họ” là ai ? Họ là một gia đình trong xóm, theo đạo Hồi cũng có số con tương đương, đang đói ăn và cũng không có gì ăn.

Người phụ nữ đó đã ý thức về tình cảnh của mình, nhưng bà can đảm và có lòng, nên đã chia phần cơm ít ỏi này với người khác. Tôi nghĩ nàng đã cảm thấy hạnh phúc: vì được chia sẻ với xóm giềng một chút gì tôi đã đem đến cho nàng, bất kể cả hoàn cảnh của mình.

Vì không muốn cướp mất niềm hạnh phúc của nàng, đêm đó tôi không đem thêm chút cơm nào cho nàng. Tôi chỉ mang thêm vào hôm sau.

Ít năm trước, Calcutta trải qua nạn khan hiếm đường trầm trọng. Có ngày, một cậu bé khoảng bốn tuổi tới thăm tôi cùng với cha mẹ. Gia đình này đem cho tôi một hộp đường nhỏ. Khi trao tay tôi hộp đường, cậu bé nói: “Đã ba bữa, con không được nếm một chút đường nào. Mẹ cầm lấy đi. Đây là phần của những người con của mẹ”.

Cậu bé đã biết yêu thương. Cậu đã bày tỏ tình yêu bằng một hy sinh của bản thân. Tôi nhắc lại, cậu không quá ba, bốn tuổi và gần như chưa gọi được tên tôi. Tôi đã không biết cậu bé trước đó và chưa một lần gặp cậu, cũng chẳng gặp cha mẹ cậu. Cậu bé đã thực hiện quyết định đó, sau khi khám phá ra hoàn cảnh của tôi nhờ những người lớn.

Chúng ta đang nói với nhau về đời sống cộng đoàn trong gia đình của Thiên Chúa. Tuần trước chúng ta nói với nhau về việc phải sửa lỗi cho nhau. Hôm nay Chúa nói với chúng ta về một vấn đề khác “gay” hơn một chút, nhưng lại rất thú vị vì nó làm nên một cái gì đó có tính cách độc đáo trong đạo của Chúa Giêsu, Chúa chúng ta. Đó là sự tha thứ

I. Bài học hôm nay bắt nguồn từ câu hỏi của Phêrô.

Hôm đó Chúa dạy các môn đệ về cách phải đối xử với người có lỗi với mình. Đại ý Chúa bảo phải tha thứ cho những người lầm lỗi khi họ thực lòng thống hối ăn năn.

Cảm thông trước lời dạy của Chúa, Phêrô lên tiếng hỏi: “Lạy Thầy nếu người anh có lỗi với con, con phải tha thứ cho họ mấy lần ? Có phải đến 7 lần không ?”

Hỏi nhưng đã có sẵn câu trả lời.

Tại sao Phêrô dừng lại ở con số 7 như một định mức mà có lẽ ông cho là thế nào Chúa cũng sẽ bằng lòng ? Tha như thế đối với ông kể ra cũng là quá lý tưởng rồi.

Có lẽ để hiểu được Phêrô chúng ta hãy trở lại một chút về phía trước một chút.

– Trong Sách Khải Nguyên cuốn sách đầu tiên của Cựu Ước đoạn 4,20 Lamek tuyên bố luật “rừng” thời bấy giờ như thế này: “Phải báo thù đến 7 lần”

– Bước sang thời của Moise thì chúng ta thấy đã có tiến bộ hơn một chút nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở hai tiếng sự công bình: Mắt thế mắt, răng đền răng.

– Tiến sang thời lập quốc và thời các ngôn sứ, chúng ta thấy một số các Rabbi Do thái đã có những lập trường thoáng hơn. Họ đã bắt đầu nói đến tinh thần bác ái mà sau này Chúa đã đẩy lên đến tột đỉnh và coi đó là con đường của Ngài.

Rabbi Hanina nói: “Ai xin người lân cận mình tha thứ, không được xin quá ba lần”. Rabbi Jehuna dạy: “Nếu một người phạm tội một lần, họ phải tha thứ cho người ấy. Hai lần, họ phải tha thứ cho người ấy. Ba lần họ cũng phải tha thứ cho người ấy. Nhưng lần thứ tư thì không được tha nữa.”

Các Rabbi lại dừng lại ở con số ba vì Tiên tri Amos khi nói về việc Thiên Chúa tha thứ cho những ai lỗi phạm đến Người, thì tiên tri đã nói Thiên Chúa chỉ tha thứ đến ba lần. Đến lần thứ bốn thì Ngài sẽ không tha thứ nữa mà sẽ trừng phạt.

Nếu Thiên Chúa đã làm thế thì con người không được phép “qua mặt” Người. Chính vì thế mà các Rabbi chỉ chấp nhận sự tha thứ đến lần thứ ba.

Chúng ta thường nói với nhau: “Quá tam ba bận”.

Như vậy khi Phêrô đề nghị tha đến bảy lần tức là gấp hai lần cộng một cái lằn mức của các Rabbi thì ông nghĩ là ông đã làm một cuộc cách mạng và chắc là Chúa phải bằng lòng và khen ngợi ông.

Chúng ta phải cám ơn Ông Phêrô. Bởi chính từ câu chuyện này mà chúng ta được Chúa dạy cho chúng ta một bài học thật tuyệt vời. Chúa không bảo phải tha đến bảy lần mà đến bảy mươi lần bảy. Phải tha thứ luôn luôn và mãi mãi.

Tiến sĩ Morgan một trong những nhà chú giải Kinh Thánh nổi tiếng nhất của thời đại nói: “Có lẽ chúng ta phải sống lâu lắm mới có dịp để tha thứ cho một người đến 490 lần”

II. Để cắt nghĩa bài học mà Chúa vừa đưa ta, Chúa đã dùng một dụ ngôn, một dụ ngôn rất đẹp về ý nghĩa nhưng không được đẹp mấy về hình ảnh.

a/ Người đầy tớ của Vua trong dụ ngôn hôm nay vừa là con nợ vừa là chủ nợ.

– Anh ta là con nợ của Vua và là chủ nợ của bạn anh

– Với tư cách là con nợ anh chỉ là một người đầy tớ. Tương quan giữa anh và Vua là tương quan chủ nô.

– Với tư cách là chủ nợ anh là một người bạn. Tương quan giữa anh và bạn anh là tương quan huynh đệ. Một tương quan đẹp và cao hơn nhiều.

b/ Với tư cách là con nợ, món tiền anh mắc nợ rất lớn: 10.000 nén vàng.

Sử gia Joseph Flavius nói rằng: Món nợ này tương đương với 100.000.000Đ của người Do thái lúc đó. Và nếu cứ tính theo giá tiền công lao động lúc đó là 1đ/ngày thì số tiền đó tương đương với 100.000.000 ngày công. Đó là một món nợ lớn không thể tưởng tượng được. Đây là món nợ lớn hơn tiền chuộc một vị vua.

Người bày tôi trong câu truyện được Vua cho nợ một món tiền lớn như thế thật là truyện lạ lùng.

c/ Và với tư cách một chủ nợ, anh ta cho bạn của anh ta nợ 100 đồng….Một số tiền tương đương với 100 ngày công. Tỉ lệ 100/100.000.000. Một sự cách biệt khổng lồ.

d/ Bây giờ chúng ta coi cách nhà vua đối xử với anh và cách anh ta đối xử với bạn của anh ta như thế nào.

– Với tư cách là con nợ, khi anh bị đòi, anh không có gì trả, anh đã xin khất. Nói là khất cho đẹp chứ thực ra khả năng chi trả của anh có cả đời cũng không trả được.

Nhà vua quảng đại không những không bắt anh trả một đồng nào mà ngược lại còn tha hết nợ cho anh.

– Bây giờ đến lượt anh ta. Bạn anh mắc nợ anh 100 quan tiền

Anh đòi nợ. Bạn anh chưa có tiền để trả. Bạn anh van xin anh được khất lại một kỳ. Anh đối xử như thế nào thì tất cả chúng ta đã rõ.

Khi chú giải về đoạn Tin Mừng này, Cha Gutziller…:”Trước mặt Thiên Chúa con người phải điều chỉnh lại mối tương quan của mình đối với người khác. Thái độ của họ đối với anh em sẽ xác định thái độ của họ đối với Thiên Chúa. Người tín hữu khi biết Thiên Chúa đối xử tốt lành đối với mình mà còn tới gần anh em mình với tinh thần khắc nghiệt thì họ sẽ đáng sự trừng phạt của Thiên Chúa”

III. Hãy biết tha thứ kính thưa anh chị em. Hận thù chẳng để lại một ích lợi gì cho chúng ta, ngược lại nó còn làm cho cuộc đời của chúng ta mất đi những niềm vui mà đáng lý ra chúng ta luôn có.

Văn hào Nga Léon Tolstoi có kể câu chuyện ngụ ngôn như sau: có một người hành khất đến trước cửa nhà một người giàu có để xin bố thí. Mặc cho người khốn khổ van xin, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Đến một lúc không chịu được những lời van xin đó nữa thì thay vì bố thí, người giàu có đã lấy một hòn đá ném vào người hành khất.

Con người khốn khổ ấy lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào bị rồi thì thầm trong miệng: “Ta mang hòn đá này cho đến ngày nhà ngươi sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại ngươi”.

Năm tháng trôi qua, lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật. Vì biển lận, người giàu có bị tước đoạt tất cả tài sản và bị tống giam vào ngục. Người hành khất chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu có vào ngục, nỗi căm hờn trong lòng ông sôi lên sùng sục . Ông đi theo đoàn người áp tải tay không rời hòn đá mà người giàu có đã ném vào người ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá đó vào người tù để rửa sạch mối nhục hằng đeo đẳng bên ông.

Nhưng cuối cùng nhìn thấy gương mặt tiều tụy đáng thương của kẻ đang bị cùm tay, người hành khất thả nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ:

– Tại sao ta lại mang nặng hòn đá từ bao nhiêu năm qua ? Con người này, giờ đây chỉ là một kẻ khốn khổ còn hơn cả ta.

Loren Fischer ““Ghim giữ nỗi đau hay là phóng thích nó bằng sự tha thứ ? Hai điều ấy khác nhau như là ban đêm ta nằm ngủ trên chiếc gối chĩa đầy gai nhọn hay trên chiếc gối phủ đầy những cánh hồng”

Và đây là Lời của Chúa: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.”(Mt 7,36-38)

Thiếu nhi chúng con yêu quí,

Cha đố chúng con qua bài Tin Mừng hôm nay Chúa muốn nói với chúng ta về điều gì ?

– Thưa cha về việc phải biết tha thứ cho nhau.

– Rất chính xác. Chúng con giỏi. Cha hỏi thêm đã có lần nào chúng con tha thứ cho một ai đó chưa ?

– Dạ, thưa có.

– Ai nào ?

– Bạn con.

– Bạn con làm gì con mà con phải tha thứ cho bạn ?

– Bạn con chửi con.

– Rất tốt! Bạn con chửi con, con không chửi lại và sẵn sàng tha thứ cho bạn đó. Chúng con làm thế là chúng con biết tha thứ rồi. Cha cám ơn chúng con thật nhiều.

Bây giờ cha tiếp tục nói với chúng con về bài Tin Mừng hôm nay. Nếu phải hỏi qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa muốn dạy chúng ta điều gì thì câu trả lời có lẽ ai cũng có thể có trả lời được. Đó là Chúa muốn dãy chúng ta về bài học tha thứ.

Tại sao Chúa lại dạy như thế ? Thưa vì:

1. Vì con người không ai mà không có lỗi lầm.

Sống ở trên đời không ai mà không có lúc phạm những lỗi lầm. Chẳng ai trong chúng ta là con người thánh thiện đến mức độ không bao giờ có những lỗi lầm. Không ai trong chúng ta mà không bao giờ bị một ai đó xúc phạm đến chúng ta hoặc chúng ta không bao giờ có những lời nói hay việc làm làm buồn lòng xúc phạm đến những người khác.

Cách đây không lâu, tại nhà của một quan toà ở Milano, bên Italia, đã xảy ra một câu chuyện như sau: Có hai người tranh chấp với nhau lâu ngày, nhưng không thể phân thắng bại. Cuối cùng hai người đã đưa nhau đến nhà quan toà của thành phố và nhờ ông phân xử. Người thứ nhất trình bày câu chuyện và tự biện hộ cho mình. Anh vừa dứt lời thì quan toà dõng dạc tuyên bố:

Anh có lý.

Đến lượt người thứ hai đứng lên phân trần. Anh cũng đem mọi lý lẽ ra để làm nghiêng cán cân công lý về với mình. Sau khi nghe anh trình bày dông dài, quan toà cũng tuyên bố:

Anh có lý.

Cậu con trai nhỏ của quan toà theo dõi câu chuyện từ đầu đến giờ thấy vậy rất ngạc nhiên. Nó thành thật nói với cha của mình:

– Làm thế nào mà cả hai đều có lý cả được ?

Quan toà cũng đưa ra phán quyết về nhận xét của con mình như sau:

Con cũng có lý.

Mỗi người chúng ta ai cũng có lý của mình, nhưng có lẽ chúng ta không muốn nhận ra phần có lý của người khác, cũng như chính phần lỗi của mình. Và đó chính là diềng mối của mọi bất hoà từ xưa đến nay.

Chính vì thế mà mỗi người chúng ta cần phải biết tha thứ cho nhau. Cuộc sống chỉ có thể thở được nếu mỗi người chúng ta biết cư xử bằng sự cảm thông và tha thứ.

2. Phải tha thứ vì chính ta cần được thứ tha.

Con người ai mà chẳng có những khi lầm lỗi. Chính vì thế mà con người phải biết tha thứ cho nhau.

Thánh Gandhi nói: “Nếu ta chỉ áp dụng luật mắt đền mắt, răng đền răng thì thế giới sẽ chỉ còn lại toàn là người mù”. Tha thứ cần thiết cho con người như khí trời.

Mẹ Têrêsa kể: “Tôi nhớ một lần kia, tôi lượm được một bà cụ đang thoi thóp từ giữa đống rác. Tôi ẵm bà cụ lên và đem về nhà, đặt bà trên giường.

Bà cụ biết rõ là mình sắp vĩnh biệt trần thế. Thế nhưng cụ chỉ cay đắng lặp đi lặp lại:

– Chính thằng con tôi đã đối xử với tôi như thế ? Chính thằng con tôi đã đối xử với tôi như thế ?

Bà không kêu: Tôi đang sắp chết đói, tôi đang sắp chết khát đây.

Bà chỉ day dứt hoài một điều:

– Thằng con tôi đã xử với tôi thế này!

Tôi phải đợi mất một hồi lâu mới nghe được bà cụ thều thào:

– Tôi tha thứ cho con trai tôi

Và gần như chính lúc ấy bà thở hơi cuối cùng.

Một lần khác có một anh thanh niên đang hấp hối, nhưng vẫn còn giằng co với cái chết tới ba, bốn ngày. Một chị nữ tu hỏi anh:

– Tại sao anh vẫn tiếp tục chiến đấu ?

– Tôi không thể chết, nếu tôi chưa xin cha tôi tha thứ cho tôi.

Khi cha anh đến, anh đã ôm lấy cha và xin cha thứ tha.

Hai giờ sau, người thanh niên bình an từ giã cõi đời này.

3. Phải tha thứ vì đó là điều kiện để được thứ tha.

Trong Tin mừng, Chúa nhấn mạnh điều này rất nhiều lần. Khi dạy ta đọc kinh Lạy Cha, Chúa bắt ta phải hứa tha cho anh em khi xin Người tha thứ lỗi lầm của ta. Ở cuối kinh Lạy Cha, thánh Mátthêu còn thêm : “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em”. (Mt 6,14-15).

Dụ ngôn hôm nay không những nhắc lại điều đó, mà còn cho thấy, tội ta xúc phạm đến Chúa muôn ngàn lần còn nặng nề hơn anh em xúc phạm đến ta. Thế mà Chúa vẫn sẵn sàng tha thứ cho ta một cách mau chóng, nhẹ nhàng, chỉ với một điều kiện là ta cũng phải tha cho anh em những lỗi lầm ít ỏi anh em xúc phạm đến ta .

4. Sau cùng ta cần tha thứ để trở nên giống Chúa.

Một hiệp sỹ dũng cảm tên là Hidebrand bị một bạn đồng nghiệp tên là Bruno nhục mạ nặng nề. Hidebrand thề sẽ trả thù đích đáng. Ông suy nghĩ và chuẩn bị kỹ lưỡng chương trình hành động. Cuối cùng, ơng chọn địa điểm và thời giờ thuận lợi. Ông thức dậy giữa đêm, một mình võ trang đầy đủ đi đến nơi thanh vắng mà ông biết Bruno sẽ đi ngang qua. Trên đường đi ông gặp thấy một ngôi nhà nguyện còn đang mở cửa. Ông vào đó để chờ cho đến sáng. Trong khi chờ đợi ông tiêu khiển bằng cách ngắm nhìn các bức tranh trong nhà nguyện.

Bức tranh thứ nhất vẽ Chúa Giêsu mặc áo choàng đỏ, đầu đội mão gai, phía dưới có ghi một hàng chữ bằng tiếng Latinh nội dung như sau: “Bị lăng nhục, Ngài không đáp trả lại bằng lăng nhục”.

Bức thứ hai nhắc lại cảnh đau buồn khi Ngài bị đánh đòn, với hàng chữ “Khi chịu những khổ đau như thế Ngài không hề đe dọa”.

Và cuối cùng, bức thứ ba trình bày Chúa Giêsu trên Thập Giá, với hàng chữ “Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”.

Nhìn liên tiếp ba bức tranh như thế, tâm hồn Hidebrand bị xúc động mạnh. Ông quỳ gối xuống và bắt đầu cầu nguyện. Dần dần cơn hận thù giảm đi, rồi biến mất. Ông còn ngồi lại đó chờ kẻ thù của ông đến, nhưng chờ để tha thứ tận tình và để làm hoà lại với nhau. (Góp nhặt).

Chúng con yêu quí,

Cách nay đã lâu, bên Mỹ có xảy ra một vụ khủng bố. Mấy toà nhà cao ngất trời tại thành phố nổi tiếng giầu có là thánh phố New York bỉ quân khủng bố đánh bom bị sụp đổ tan tành ngày 11 tháng 9 năm 2001. Số người chết lên đến cả hàng ngàn người. Cả thế giới khi nhắc tới biến cố này đều cầu mong cho có một ngày nào đó được hoà bình. Thế nhưng hoà bình vẫn chưa xuất hiện. Tại sao thế. Tại vì như Đức Thánh Cha vị cha chung của chúng ta đã nói vào ngày người ta kỷ niệm 10 năm biến có 11 tháng 9 như thế này: “Thế giới không thể có hoà bình nếu thiếu sự tha thứ”.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta một thế giới biết cảm thông, chan hoà. Một thế giới chứa chan tình huynh đệ. Một thế giới chan chứa niềm vui và tha thứ để thế giới xứng đáng là ngôi nhà chung của mọi người. Lạy Chúa xin thương xót chúng con.

Anh chị em thân mến,

Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa dạy chúng ta hai điều: Trước hết là phải biết sửa lỗi cho nhau và thứ hai là phải biết tụ họp lại mà cầu nguyện chung với nhau.

I. Trước hết là việc sửa lỗi.

Con người chúng ta chẳng ai mà không có lần lầm lỗi. Châm ngôn của người La Mã nói: “Lầm lỗi là bản tính của con người”. Lý do cũng dễ hiểu bởi vì loài người chúng ta “nhân vô thập toàn”. Chẳng ai trong chúng ta hoàn thiện đến mức độ không có một tật xấu nào.

Một nhà văn Pháp đã nói:

* Tuổi trẻ thì táo bạo,

* Người trưởng thành thì háo danh, kiêu căng

* Người già thì keo kiệt, khó ưa.”

Tóm lại: Không ai trong chúng ta hoàn toàn.

Và còn một điều này nữa cũng thường xảy ra. Đó là: cái xấu của ra, ta khó thấy….Còn cái xấu của người khác ta lại rất dễ thấy.

Chính Chúa Giêsu cũng đã có lần cảnh giác người ta: “Cái xà trong mắt ngươi, ngươi không thấy. Nhưng lại rất thấy thật rõ cọng rác nhỏ trong mắt nơi người anh em “(Mt 7,3).

Chính vì thế mà việc sửa lỗi cho nhau đã được Chúa coi như một điều cần thiết cho đời sống cộng đoàn.

Bản thân ta nếu muốn thấy rõ mình, ta cũng cần phải nhờ đến người khác

“Người chỉ cho ta, mà chỉ phải, tức là thầy của ta.

Người khen ta, mà khen phải, là bạn của ta.

Còn người nịnh hót ta thì ta phải kể họ là kẻ cừu địch của ta”(Tuân Tử)

Vua Hoàn Công xưa là một người có một cuộc sống thật gương mẫu về vấn đề này.

– Vua chọn cho mình ba người bạn để ngồi chơi với mình.

– Vua chọn cho mình năm người để can ngăn mình khi mình có lỗi

– Và vua chọn cho mình 30 người để nhắc nhở cho mình mỗi khi mình có lỗi lầm điều gì.

Phải biết sửa lỗi cho nhau vì đây là một  nhiệm vụ chứ không phải chỉ là một lời khuyên. Lời Chúa qua miệng tiên tri Êzêkiel cũng nhấn mạnh điều đó: “Nếu ngươi không chịu lên tiếng nói để người gian ác từ bỏ đường lối của mình…mà người gian ác phải chết trong sự gian ác của nó thì Ta sẽ đòi máu của nó bởi tay của ngươi”(Ed 33,11)

Nhưng sửa bằng cách nào thì Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta. Những chỉ dẫn của Người hết sức rõ ràng.

a/ Trước hết là tiếp xúc cá nhân. Đây là phương pháp hay nhất. Tuy nhiên phải rất khéo léo tế nhị và khôn ngoan thì mới thành công.

Thánh Phaolô đưa ra hai lời khuyên;

–  Với người trên ta phải năn nỉ.

– Với người dưới ta phải nhẫn nại khuyên lơn

Thánh Philipphê Nêri một ngày kia muốn sửa lỗi cho một người phụ nữ có cái tật hay nói hành nói xấu người khác. Ngài bảo chị ta mua một con gà rồi làm cho nó chết đi….sau đó hãy đem con gà đó đến gặp Ngài với điều kiện là phải vặt hết lông con gà trên đường đi đến gặp ngài. Người phụ nữ hơi thắc mắc nhưng vì lòng mến đối với thánh nhân nên cũng vui lòng làm như ngài đòi hỏi. Khi tới nơi, ngài không khuyên lơn gì cả mà lại ra lệnh cho bà đó trở về…. vừa đi vừa lượm lại cho ngài hết số lông con gà mà bà đã vứt ở giữa đường.

Chúng ta thừa biết phản ứng của người phụ nữ đó như thế nào.

Sau đó ngài cắt nghĩa: “Những lời nói vu oan cáo vạ cho người khác khi ra khỏi miệng cũng sẽ nhanh chóng loan truyền từ tai người này sang tai người khác như vậy, khó mà con thể thu lượm lại được…chẳng khác gì phải thu lượm lại những cái lông gà….của con vậy.”. Rồi ngài thêm “Còn khi muốn nói về một người nào làm khổ mình thì chỉ nên nói với Chúa mà thôi….hãy cầu nguyện cho họ để họ biết sửa lỗi”.

b/ Tiếp theo là dùng những buổi sinh hoạt của cộng đoàn

Đây là hình thức rất được ưa chuộng ngày hôm nay. Những buổi chia sẻ lời Chúa. Những buổi tĩnh tâm, những buổi sinh hoạt tổ đều ít nhiều nhắm tới mục đích tìm ra những sai sót giúp nhau sửa lại những sai sót của mình trước mặt Chúa.

c/ Bước tiếp theo cực chặng đáng mới phải dựa vào sự phán xét của Giáo Hội.

Ngày kia vị Giám mục đến thăm mục vụ tại một làng nọ. Dân chúng bày tỏ sự bất mãn của họ đối với một vị ẩn sĩ trên núi vì ông đang chung sống với một phụ nữ mất nết. Sau khi nghe những lời kết án, vị Giám mục quyết định cùng dân làng leo lên núi. Thấy đám đông đến nơi mình ở, vị ẩn sĩ hoảng sợ bảo người phụ nữ trốn vào một chiếc thùng rỗng.

Vị Giám mục là người thứ nhất bước vào lều. Ngài đưa mắt nhìn quanh và hiểu ngay sự việc. Ngài bình thản đến ngồi trên chiếc thùng gỗ ấy và bảo dân làng vào lục soát. Tìm mãi mà không thấy ai, dân lành đành ra về. Chờ cho mọi người đi ra hết, vị Giám mục nhìn sâu vào đôi mắt nhà ẩn sĩ và nói: “Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ Linh hồn mình”.

II. Về việc cầu nguyện

Sau tất cả những “biện pháp như thế mà vẫn không có kết quả thì sao? Chúa bảo: “ Nếu họ không nghe….thì hãy coi họ như những người thu thuế và người ngoại giáo”(Mt 18,17).  Lời của Chúa có vẻ hơi khó hiểu. Phải chăng là tuyệt vọng? Không! Bằng chứng là trong Tin Mừng Chúa đã nhiều người tội lỗi trở thành  người công chính. Cụ thể như Matthêô tác giả bài Tin Mừng hôm nay.

Như vậy là còn một “chiêu” khác. Đó chính là sự hiệp lời cầu nguyện.

Lời cầu nguyện nhiều khi có một giá trị không ngờ.

Chúng ta hãy nghe những lời sau đây của Thánh Augustinô: “Nhờ ơn của mẹ tôi, nhờ lời cầu nguyện và công phúc của người mà tôi đã thành người như hiện nay. Lạy Chúa nếu con được làm con Chúa, chính vì Chúa đã ban cho con một người mẹ, một trong những tôi tá của Chúa.”

Thánh Têrêsa bằng lời cầu nguyện của mình đã làm cho một tử tội tưởng chừng như không thể khuất phục ăn năn và chịu các Bí tích cuối cùng trước khi lên đoạn đầu đài.

Ngày kia, thánh Etienne, đang giảng thuyết trước một cử tọa đông đảo, bỗng có một người dám nói với ngài:

– Thưa cha, mặc dù cha nói nhiều đến sự kinh tởm tội lỗi, con cũng chả muốn hoán cải tí nào và con rất bực bội khi nghe tin cha cầu nguyện cho con.

Ngạc nhiên trước những lời nói bạo gan này, vị thánh xúc động đến nỗi ngài phải khóc ròng. Và ngay sau đó, ngài đánh chuông tập hợp tất cả các tu sĩ lại, bảo:

– Chúng ta hãy mau cầu nguyện cho con người đáng thương này!.

Vài giờ sau đó, trái tim của kẻ tội lỗi cứng đầu này hoàn toàn thay đổi; anh ta nhận ra tình trạng thảm hại của mình và quyết định sống một cuộc đời đổi mới. Anh đến tìm gặp vị thánh, phủ phục dưới chân ngài xin tha thứ, và hứa sẽ từ bỏ các tật xấu, không bao giờ tái phạm nữa.

Lạy Chúa Giêsu

Chỉ có Chúa mới có thể làm cho chúng con những điều kỳ diệu.

Xin Chúa đừng để cho những lỗi lầm chúng con gây ra cho nhau trở thành nguyên cớ cho những mất mát và phân ly.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết nhân danh Chúa để sống trong sự thật, trong yêu thương.

Xin cho chúng con biết hết lòng giữ gìn, chăm sóc, vun tưới cho cuộc sống hiệp nhất giữa những người con của Chúa mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Vì chỉ có như thế chúng con mới xứng đáng là những người con và xứng đáng với tình yêu thương của Chúa mỗi ngày. Amen.

Thiếu nhi chúng con yêu quí,

Cha con chúng ta vừa đọc lại một bài Tin Mừng do thánh Mathêo viết. Trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, chúng ta thấy Chúa Giêsu khuyên mọi người hai điều hết sức cụ thể và rất cần thiết cho cuộc sống của mọi người.

Cha đố chúng con Chúa khuyên chúng ta điều gì ?

– Thưa cha Chúa khuyên chúng ta hãy biết sửa lỗi cho nhau.

– Rất chính xác. Nhưng còn điều thứ hai ?

– Hãy biết họp nhau lại mà cầu nguyện.

– Chính xác luôn! Chúng con giỏi.

1. Bây giờ chúng ta nói với nhau về điều thứ nhất: “Hãy biết sửa lỗi cho nhau”

Đây chúng con hãy nghe lời Chúa: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã được món lợi là người anh em mình. Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế. (Mt 18,15-17)

Cha hỏi chúng con: Chúng ta có thể làm được việc sửa lỗi cho nhau không ? Câu trả lời của cha là: Có.

Làm sao mà chúng ta có thể làm được điều đó ? Chúng con còn nhỏ. Chúng con không thể làm được việc sửa lỗi cho nhau như những người lớn. Thế nhưng vẫn có cách để chúng ta làm được điều này. Cách nào ?

– Cách thứ nhất là đời sống tốt lành thánh thiện của chúng con.

Cha nhớ lại một câu chuyện, không biết của thánh nào nhưng nội dung câu chuyện thì cha nhớ rất rõ. Có lẽ là thánh Gioan Boscô! Khi vị thánh ấy còn nhỏ thì mẹ của vị thánh ấy rất sợ con của mình lây nhiễm những thói hư tật xấu của những bạn trẻ cùng trang lứa, nhất là tội nói tục. Một hôm vị thánh trẻ ấy xin mẹ cho mình được ra chơi với các bạn cùng xóm ngõ với mình. Những bạn này có thói hư mở miệng ra là nói tục. Mẹ ngài lúc đầu nhất định không cho. Nhưng sau khi nghe con trình bày. Mẹ của vị thánh nhỏ ấy đã bằng lòng. Chúng con biết ngài nói với mẹ làm sao không ?

– Mẹ cứ để cho con ra chơi với các bạn ấy. Sự có mặt của con sẽ làm cho các bạn ấy bớt nói tục hơn.

Đó chúng con thấy. Chúng ta cũng có thể sửa lỗi cho các bạn của mình như thế miễn là mình phải có sự thánh thiện.

Cách thứ hai là sống ngoan ngoãn dễ thương.

Cha kể cho thêm chúng con câu chuyện vui này:

Bạn Gioan một hôm đi học giáo lý về, thấy bố mẹ đang to tiếng cãi vã nhau.  Bạn bỏ cặp sách xuống và rồi nhảy ngay lên mặt bàn rồi hô lên một tiếng thật lớn.

– Im lặng.

Cha mẹ bạn Gioan im lặng không còn to tiếng với nhau nữa. Sau đó hai người bế Gioan xuống rồi hỏi:

– Con học được câu chuyện này ở đâu vậy ?

Bé Gioan ngoan ngoãn trả lời: Cô giáo của con mới dạy cho con bài giáo lý sáng nay!

– Cô dạy gì ?

– Thưa con dạy chúng con về Chúa Giêsu dẹp yên bão tố giữa biển khơi.

Câu trả lời ngoan ngoãn dễ thương của bé Gioan làm cho cha mẹ phải “phì cười”. Hai ông bà ôm con vào lòng. Họ cảm thấy hạnh phúc vì có được đứa con ngoan. Gioan đã sửa lỗi cho cha mẹ bạn ấy. Chúng con thấy không ? Cha không bảo chúng con phải làm y như vậy. Nhưng khi chúng con sống ngoan ngoãn tử tế thì chính sự ngoan ngoãn tử tế thánh thiện của chúng con sẽ là một bài học sửa lỗi cho những người chung quanh rồi.

2. Bây giờ cha nói với chúng con điều thứ hai. Về sự cầu nguyện.

Chúng con hãy nghe lời Chúa dạy: “Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ”.(Mt 18,19-20)

Ở trên chúng ta đã nghe Chúa nói về sự sửa lỗi cho nhau. Chúa cũng đã nói về việc chúng ta cố sửa lỗi mà không thành công. Trong trường đó, chúng ta phải làm thế nào ? Chẳng lẽ chúng ta đành bó tay! Không! Còn một phương thế khác đó là chúng ta cầu nguyện. Chúng con hãy đọc lại lời Chúa một lần nữa đi: Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời, sẽ ban cho.

Chúng con có biết bà thánh Monica và ông thánh Augustinô không. Đây là lời ông thánh Augustinô:”Nhờ ơn của mẹ tôi, nhờ lời cầu nguyện và công phúc của người mà tôi đã thành người như hiện nay. Lạy Chúa nếu con được làm con Chúa, chính vì Chúa đã ban cho con một người mẹ, một trong những tôi tá của Chúa.”

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu một lần kia bằng lời cầu nguyện của mình đã làm cho một tử tội tưởng chừng như không thể khuất phục ăn năn và chịu các Bí tích cuối cùng trước khi lên đoạn đầu đài. Vậy mà bằng lời cầu nguyện Ngài đã thành công.

Ngày kia, thánh Etienne, đang giảng thuyết trước một cử tọa đông đảo, bỗng có một người dám nói với ngài:

– Thưa cha, mặc dù cha nói nhiều đến sự kinh tởm tội lỗi, con cũng chả muốn hoán cải tí nào và con rất bực bội khi nghe tin cha cầu nguyện cho con.

Ngạc nhiên trước những lời nói bạo gan này, vị thánh xúc động đến nỗi ngài phải khóc ròng. Và ngay sau đó, ngài đánh chuông tập hợp tất cả các tu sĩ lại, bảo:

– Chúng ta hãy mau cầu nguyện cho con người đáng thương này!.

Vài giờ sau đó, trái tim của kẻ tội lỗi cứng đầu này hoàn toàn thay đổi; anh ta nhận ra tình trạng thảm hại của mình và quyết định sống một cuộc đời đổi mới. Anh đến tìm gặp vị thánh, phủ phục dưới chân ngài xin tha thứ, và hứa sẽ từ bỏ các tật xấu, không bao giờ tái phạm nữa.

Cha muốn kết thúc bằng một câu chuyện khác.

Một bé gái nọ có thói quen đọc kinh trước khi đi ngủ. Ngày kia, em bị bệnh nặng phải vào nhà thương. Các bác sĩ cho biết chỉ có giải phẫu mới có hy vọng cứu sống em. Trước khi cho thuốc gây mê, các bác sĩ và y tá báo cho em biết là em sẽ được ngủ một giấc dài. Nghe nói ngủ, cô bé ngây thơ đã xin được quỳ xuống cầu nguyện. Thế là trước mặt mọi người, cô bé quỳ gối cầu nguyện một cách hết sức chân thành, và em kết thúc bằng lời nguyện như sau: “Xin Chúa cho con được chóng lành bệnh”. Cầu nguyện xong, em bé nằm xuống và xin các bác sĩ và y tá tiến hành cuộc giải phẫu…

Ngày hôm sau, cô bé tỉnh dậy với nỗi đau tột cùng. Câu hỏi đầu tiên của em với bác sĩ là: “Cháu có được lành bệnh không, thưa bác sĩ ?” Vị bác sĩ nhìn thẳng vào đôi mắt của em và đáp với tất cả sự xúc động:

“Cháu hãy để cho Chúa lo liệu, bác chưa biết được kết quả của cuộc giải phẫu. Nhưng có một điều bác tin chắc, đó là cứu được một người, và người đó không ai khác hơn đó chính là bác đây! Từ lâu, bác đã không đến nhà thờ, bác không còn nhớ đến Chúa và cũng không bao giờ cầu nguyện nữa. Thế nhưng, hôm qua khi nhìn thấy cháu cầu nguyện một cách thật sốt sắng, bác không cầm được nước mắt. Chúa đã đáng động bác. Sáng nay, bác đã đến nhà thờ xưng tội và chịu lễ. Bác tin chắc rằng Chúa đã nhận lời cháu. Cháu đừng lo lắng nữa. Hãy phó thác cho Thiên Chúa!”.

Thiên Chúa, và chỉ có Thiên Chúa mới hiểu rõ điều gì tốt đẹp cho chúng ta. Nếu Người không đáp trả theo cách thế chúng ta muốn, chúng ta hãy tin chắc rằng Người đã ban cho chúng ta, hay những người thân của chúng ta, những điều tốt đẹp và quan trọng hơn!.

Bài Tin Mừng hôm nay gồm ba dụ ngôn. Một dụ ngôn dài và hai dụ ngôn ngắn. Dụ ngôn dài được chính Chúa cắt nghĩa. Chúa cắt nghĩa cho các môn đệ nhưng cũng là cắt nghĩa cho chúng ta. Chúng ta cố gắng tìm hiểu cả ba dụ ngôn xem Chúa muốn nhắn nhủ gì với chúng ta.

1. Chúng ta bắt đầu với dụ ngôn hạt cải: “Nước trời giống như một hạt cải”

Qua dụ ngôn này Chúa muốn nói với chúng ta về sự trưởng thành và phát triển của Giáo Hội.

* Như một hạt cải thật nhỏ bé được gieo vào lòng đất nhưng khi nó lớn lên nó có thể trở thành một cây thật lớn. Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo hồi còn làm Đức Ông ở Roma có gửi cho tôi một ít hạt cải ở Đất thánh. Nó thật nhỏ bé. Tôi có cảm tưởng như nó chỉ bằng một phần tư viên bi ở đầu mỗi cây viết Bic chúng ta sử dụng hằng ngày. Thế nhưng khi được gieo vào lòng đất, nó từ từ nảy mầm, phát triển và lớn lên….đến độ chim trời có thể tụ tập nương náu dưới bóng của nó.

* Giáo Hội hay Nước Trời tại thế của Chúa một phần nào cũng giống như thế.

– Nước trời có một nguồn gốc rất khiêm tốn bắt đầu từ chính Chúa Giêsu mà Chúa Giêsu về cuộc đời của Ngài dưới con mắt trần thế thì quả thật chẳng có gì đáng giá và hấp dẫn: Sinh ra nghèo khó, sống cũng khó nghèo, đi giảng đạo thì gặp rất nhiều thất bại, rồi cuối cùng chết như một tên tử tội.

– Sau Chúa Giêsu thì một nhóm mô đệ cũng thật nhỏ bé: Chỉ có 12-13 người nếu kể cả Phaolô. Họ là những người như thế nào thì anh chị em cũng đã quá biết.

* Vậy mà Giáo Hội cứ tự lớn lên xuyên qua thời gian, trải qua không biết bao nhiêu gian nan khốn khó. Nếu cứ tự nhiên mà xét thì quả thật không hiểu nổi. Tới hôm nay thì Giáo Hội đã trở thành một cây thật lớn, đang làm nơi nương tựa cho hơn một tỷ người trong đó có chúng ta. Chúng ta hãy cám ơn Chúa.

2. Nước trời được Chúa ví như men trộn vào bột.

* Như một chút men xem ra không có gì đáng chú ý được trộn vào bột…Chúa Giêsu nói đến 3 đấu bột….khoảng chừng 60-70 kilos vậy mà chỉ cần một lượng men thật nhỏ, chúng cũng có thể biến đổi cả một khối lượng bột lớn như thế và làm cho tất cả được dậy men.

* Tin Mừng Nước trời của Chúa cũng có một sức biến đổi phi thường như thế.

Những thế kỷ đầu tiên, khi hạt giống Tin Mừng được gieo vào giữa trung tâm quyền lực của Đế quốc La Mã, Hoàng Đế Néron đã thấy được cái “nguy cơ quyền lực của đế quốc có thể bị ảnh hưởng, Ông đã phát động một phong trào trong toàn cõi đế quốc nhằm tiêu diệt hết nhưng người mà ông gọi là “Kitô”…nhưng rồi ông đã thất bại cho dù là sau đó bao nhiêu bạo chúa ở La Mã đã tiếp nối con đường của ông. Sau khi nhìn lại thời gian Giáo Hội bị tàn sát suốt 300 năm, vậy mà Giáo Hội vẫn tồn tại và phát triển, sử gia Tertulliano đã viết lên một nhận xét thật đẹp như thế này: “Hạt máu của những vị tử đạo là hạt giống làm nảy sinh ra những người Kitô hữu khác”

Đó là hai hình ảnh tôi nghĩ là rất đẹp về Giáo Hội hay Nước Trời của Chúa tại trần thế. Thế nhưng bên cạnh hai hình ảnh đẹp đó Chúa lại cho chúng ta thấy một hình ảnh khác chưa đẹp hay không đẹp tí nào.

3. Nước trời giống như một thửa ruộng vừa có lúa tốt nhưng cũng lại có cả cỏ lùng.

Về ý nghĩa dụ ngôn này thì chính Chúa đã cắt nghĩa. Ở đây tôi chỉ xin có một vài nhận xét thêm.

Thực tại Nước trời trong giai đoạn trần thế là một thực tại pha trộn. Rõ ràng trần thế nơi chúng ta, những con người đang sống là chỗ chung cho cả con cái của sự sáng và sự tối tăm. Vấn đề tôi muốn đặt ra ở đây là ai là người được coi là tốt và ai là người bị coi là xấu. Trong bài dụ ngôn Chúa có nói tới tình trạng không khác nhau gì mấy giữa lúa và cỏ lùng và xem chừng như Ngài muốn giành độc quyền về sự phân loại cho Ngài khi Ngài đề cập đến vấn đề ấy chỉ xảy ra vào Ngày phán xét. Lúc đó thì mọi sự sẽ rõ ràng. Rồi cũng trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa nói tới sự kiên nhẫn của Ông chủ mà Ông Chủ ở đây rõ ràng là chính Chúa. Chúa có ý bỏ ngỏ vấn đề để buộc chúng ta phải suy nghĩ.

Thật khó mà đánh giá được ai là người thực sự tốt trước mặt Chúa và ai là người bị coi là xấu trước mặt Ngài.

Buổi tối nọ, một người đàn bà ngồi chờ chuyến bay tại phi trường. Bà biết phải chờ đợi lâu giờ nên đến hiệu sách mua một cuốn sách và một gói bánh, rồi ngồi đọc sách. Tuy cắm cúi đọc sách nhưng bà cũng nhận ra có người đàn ông ngồi bên cạnh. Và điều làm cho bà cảm thấy khó chịu là thỉnh thoảng ông đó lại lấy bánh trong gói bánh của bà ăn.

Cuối cùng gói bánh chỉ còn 1 cái. Bà để ý xem coi người đàn ông mất dạy đó làm sao. Ông ta lấy cái bánh cuối cùng đó bẻ làm đôi, mỉm cười trao cho bà một nửa, còn phần kia thì cho vào miệng. Bà nghĩ người đàn ông này thật là vô liêm sỉ, đã ăn hết gói bánh của bà mà không biết nói một lời cám ơn.

Bỗng có tiếng còi loan báo chuyến bay của bà đã đến giờ. Bà vội vàng thu xếp hành lý vào cổng lên máy bay. Sau khi ngồi vào ghế, bà kiểm tra lại hành lý thì thấy cuốn sách và gói bánh vẫn còn nguyên trong túi xách. Như vậy cuốn sách bà đọc và gói bánh bà ăn trong lúc chờ chuyến bay là của người đàn ông lạ mặt mà bà cho là vô liêm sỉ đó. Không còn giờ để xin lỗi người đàn ông đó, bà tự nhủ :

– Kẻ ăn cắp bánh và người vô liêm sỉ đó chính là ta!

Pascal nói: “Thường thì chúng ta hãy phân chia con người ra thành hai dạng: Những người thánh thiện và những kẻ tội lỗi. Tôi không dám nói sự phân biệt như thế là sự phân biệt không có cơ sở, nhưng tôi cho rằng sự phân biệt như thế là sự phân biệt rất tương đối và đôi khi có thể là một ảo tưởng. Chính nơi bản thân mỗi người chúng ta, chúng ta thừa kinh nghiệm để thấy rằng sự thánh thiện và tội lỗi đang cùng có mặt ngay trong mỗi người chúng ta”

Chỉ có lòng nhân từ của Thiên Chúa mới có thể giúp chúng ta lớn lên trong ân nghĩa với Ngài và Ngài đang chờ đợi chúng ta như Ông chủ ruộng lúa đợi mùa gặt của mình.

Sau nhiều năm phải sống trong trại tập trung, văn hào Alexandre Solzhemtsyn đã nghiệm ra được những ý tưởng sau.

“Tôi đã học được một bài học lớn nhờ những năm bị giam trong tù.

Tôi đã hiểu một người trở thành xấu như thế nào và một người trở nên tốt như thế nào.

Tôi đã dần dần nhận ra rằng đường biên giới phân giai cấp hay các đảng phái chính trị, không nằm ở đâu khác mà nằm ngay trong lòng mỗi người.

Ngay trong những trái tim ngập tràn sự ác vẫn còn sót lại một đầu cầu nhỏ nối với sự thiện.

Và ngay trong trái tim tốt nhất của các trái tim vẫn còn tồn tại gốc rễ sự ác.”

Lạy Chúa khi đến mùa gặt, rơm rạ bị để qua một bên, trấu bị gió thổi đi, cỏ dại bị quăng vào lửa, và lúa tốt được cất vào kho.

Khi đến ngày chết của con, mùa gặt của đời con cũng diễn ra trước mặt Chúa.

Và trong cuộc sống này xin cho chúng con đừng quá thiển cận, chỉ thấy gần chứ không thấy xa, chỉ thấy bề ngoài mà không thấy bề trong và do đó mà chúng con mất kiên nhẫn.

Lạy Chúa xin cho chúng con biết sống bao dung như Chúa vì Chúa vừa thấy được cả hiện tại lẫn tương lai, thấy được cả bề ngoài và thấy được cả bề trong.

Và khi cuộc đời của chúng con khép lại, xin bàn tay khôn ngoan của Chúa hãy sàng sẩy và chọn ra những gì đáng giữ lại; nhưng đối với những gì không đáng giữ lại, xin hãy thổi đi bằng hơi thở nhân từ của Chúa.

Dụ ngôn cỏ lùng là một trong những dụ ngôn hiếm hoi được chính Chúa giải thích rõ ràng. Sự giải thích của Chúa giúp ta có những hiểu biết hữu ích cho đời sống đạo.

A. Dụ ngôn nhắc nhớ ta về sự hiện diện của ma quỉ.

Xin kể một câu chuyện trong sự tích của thánh Gioan Maria Vianney.

Một hôm, nhân dịp mở tuần đại phúc tại một xứ trong hạt, người ta đã mời cha Vianney cùng nhiều Linh mục khác đến giúp. Sau buổi cơm tối, cha Vianney nhẹ nhàng nói với anh em:

– Thưa các cha, con hay bị ma quỷ quấy phá, nhất là gần tới những hôm con cứu được nhiều linh hồn tội lỗi nặng. Vì thế, để đề phòng, con xin trình các cha trước, nếu đêm nay ma quỷ có làm gì thì xin các cha cứ biết vậy và an tâm, nó phá một lúc rồi sẽ hết!

Cha Vianney vừa dứt lời, các cha khác đã cười rộ lên:

– Lại chuyện ma quỷ! Sao mà cứ nghe cha nói toàn là những chuyện giật gân tào lao không à! Có thật không? Hay cha bị ám ảnh thế?

– Đây là dịp tốt, cha khác bảo, mình cứ nghe hoài câu chuyện ma quỷ phá rối cha Vianney mà chẳng bao giờ chứng kiến được, may ra tối nay mình sẽ được một lần xem tận mắt! Cha Vianney cứ yên trí ngủ đi. Tụi này không sợ ma quỷ gì đâu, trái lại còn mong xem thấy tận mắt là khác!

Cả nhà tắt đèn đi ngủ. Nửa đêm, giữa lúc mọi người đang say sưa giấc điệp thì nhà xứ rung động dữ dội, ghế bàn chạy đi chạy lại, đồ đạc thì lăn lóc rơi xuống vung vãi trên sàn nhà, cột nhà thì kêu răng rắc như muốn gãy đôi… Các cha hớt hơ hớt hải mang áo ngủ lùng thùng chạy ra sân, mình toát cả mồ hôi hột, miệng không ngớt kêu lên:

– Dễ sợ quá! Chưa bao giờ thấy chuyện khủng khiếp như thế này! Cái gì thế? Động đất lớn à?

– Thế còn ông Vianney đâu mất?

– Chắc ông ở trên phòng! Đợi yên ta lên tìm xem. Các cha kéo nhau lên gác, gõ cửa:

“Cốc, cốc”. Có tiếng guốc khua trên sàn nhà, cha Vianney mở cửa, các cha ái ngại hỏi:

– Cha đang ngủ à?

– Vâng, con đang ngủ!

– Thế cha không nghe gì cả sao? Chúng tôi kinh khiếp quá!

– Có, con có nghe. Thì…. hồi tối, ở nhà cơm, con có trình các cha rồi! Ma quỷ nó hay quấy phá con như thế lắm! Xin các cha cứ an tâm, có đêm nó làm con nhiều lần như thế, nhưng không sao cả! Vì nó thua to, nó cay thì nó quấy phá vậy thôi!

Nói xong, ngài chào các cha và đi ngủ. Các cha cũng trở về lại phòng, nhưng suốt đêm không sao nhắm mắt được.

Sáng hôm sau, vào giờ điểm tâm, các cha lại nhắc đến câu chuyện khiếp sợ hồi hộp và nói:

– Cha Vianney, bây giờ chúng tôi tin thực đúng là “băng hoả ngục” nó quấy phá cha. Bấy lâu nay chúng tôi chế nhạo cha nhưng đêm vừa rồi chúng tôi phải một phen kinh hồn bạt vía và cảm thấy xấu hổ với cha quá! Xin cha thông cảm và tha thứ lỗi lầm cho anh em chúng tôi. Nhưng nay chúng tôi yêu cầu cha một điều: suốt tuần đại phúc này, chiều nào cha cũng phải về xứ Ars để ngủ rồi sáng mai lại chịu khó đến đây. Chứ nếu cha ngủ đây thì chúng tôi phải di tản hết. Khiếp quá chịu không thấu”.

– Con xin vâng lời các cha. Khởi sự chiều nay, con sẽ về nhà ngủ.

Ma quỉ hiện hữu. Chúng luôn có mặt để gieo rắc sự xấu. Chúa đã chuẩn bị những thửa ruộng tốt. Những thửa ruộng đó là thế giới, là Giáo hội, là tâm hồn mỗi người. Chúa đã gieo những hạt giống tốt. Hạt giống đó là Lời Chúa, là ơn Chúa, là những thiện chí, những ý hướng cao đẹp trong tâm hồn con người.

Nhưng ma quỉ lén gieo vào những hạt cỏ xấu.

Ngay trong bản thân mỗi người, không thiếu những sáng kiến, những hoạt động ban đầu xem ra tốt đẹp, nhưng dần dà bị vẩn đục vì những biến tướng nặng mùi trần tục như khoe khoang, tìm hư danh, tìm lợi lộc.

Đó là những hạt cỏ xấu ma quỉ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt.

B. Tuy nhiên, dụ ngôn cũng cho thấy sự kiên nhẫn và lòng bao dung của Chúa.

Có một thầy ẩn tu hết sức đạo đức thánh thiện tên là Sébastien. Một ngày nọ, sau giờ cầu nguyện, thầy đánh bạo ngỏ ý với Đức Giêsu xin được thế chỗ của Người trên thập giá trong ngôi nguyện đường. Đức Giêsu đồng ý nhưng với một điều kiện: Đó là phải giữ im lặng tuyệt đối. Thầy Sébastien cam đoan chấp hành, miễn là được toại ý. Thế là sau đó, mọi sự đã diễn ra đúng như thế mà mọi người đến viếng nguyện đường đều không biết gì.

Một hôm, có một ông nhà giàu đến nguyện đường đọc kinh, khi ra về thì bỏ quên mất túi tiền ở lại. Sau đó, một người nghèo cũng đến cầu nguyện, quì vào đúng chỗ của ông ta và trông thấy túi tiền. Anh ta mừng rỡ tạ ơn Chúa rồi cầm về. Kế tiếp, lại có một anh thanh niên đến xin Chúa cho đi đường được bình an, anh vừa đứng lên rời nguyện đường thì ông nhà giàu vội vã quay trở lại, không thấy túi tiền đâu, bèn nghi cho anh chàng đã lấy cắp nên tri hô cảnh sát.

Thấy vậy, thầy Sébastien từ trên thập giá buột miệng la to:

– Này ông kia, dừng lại, không phải như thế đâu.

Sau đó, thầy Sébastien kể lại đầu đuôi mọi sự, ông nhà giàu tin ngay vì nghĩ đó chính là Đức Giêsu, liền chạy đi tìm người nghèo để đòi lại túi tiền, còn anh thanh niên thì sụp lạy tạ ơn rồi lên đường

Khi nguyện đường trở lại cảnh thanh vắng, Đức Giêsu mới hiện ra và bảo thầy Sébastien:

– Con hãy xuống ngay khỏi thập giá của Ta, con không xứng đáng thay thế chỗ của Ta, chỉ vì con đã không bằng lòng im lặng như đã hứa với ta !

Thầy Sébastien mếu máo phân trần:

– Nhưng lạy Chúa, làm sao con có thể im lặng trước một sự bất công như vậy?

Câu chuyện làm tôi liên tưởng đến Lời của Chúa: “Hãy cứ để đấy, cho cỏ lùng mọc lên chung với cây lúa cho tới mùa gặt… “.(Mt 13, 24-30):

Chúa kiên nhẫn đợi chờ vì hy vọng những người tội lỗi ăn năn sám hối.

C. Cuối cùng, dụ ngôn cho ta hiểu cây lúa không thể biến thành cây cỏ lùng, nhưng những con người tội lỗi có thể trở thành một đấng thánh. Augustinô là một thí dụ. Người trộm lành còn là một thí dụ đẹp hơn.

Đây là một câu chuyện xảy ra tại một thiền viện.

Một buổi sáng nọ, khi vừa thức dậy, một số thiền sinh phát hiện mình bị mất cắp một vài vật dụng cá nhân. Họ bảo nhau cùng để ý rình rập, và họ đã bắt được quả tang một chú thiền sinh mới đến đang lấy cắp đồ dùng của họ. Họ liền ập vào bắt giữ, giải lên cho thầy viện trưởng. Thầy im lặng, và cho chú thiền sinh nọ trở về phòng.

Ít lâu sau đó, chú thiền sinh tại bị phát giác đang ăn trộm lần thứ hai, và lại bị dẫn đến viện trưởng. Lần này cũng như lần trước, thầy vẫn im lặng, không nói năng gì, chỉ đưa tay ra hiệu cho phép chú trở về phòng. Mọi người đều thấy tấm tức bực bội về thái độ xử lý quá rộng lượng của thầy mình…

Đến lần thứ ba, chú thiền sinh có tật ăn cắp kia lại tái phạm. Tất cả các môn sinh đều tập trung lại, đòi thầy phải có thái độ trừng phạt xứng đáng. Họ đưa ra yêu sách:

– Thưa thầy, hoặc là tất cả chúng con, thầy phải lựa chọn, nếu không chúng con sẽ rời bỏ nơi này ngay lập tức!

Im lặng một lát, thầy viện trương điềm đạm trả lời:

– Tất cả các con đều đã sống tốt lành với nhau, còn chú này thì chưa được như thế vậy. Thầy muốn chú ấy sẽ ở lại với thầy để thiền định tập tành cho được tốt hơn. Các con thì không cần phải làm như thế nữa, các con có thể chia tay với thầy được rồi đấy!

Mọi người đều chưng hửng, cúi đầu, lần lượt từng người không dám nói gì nữa, lặng lẽ ai về phòng nấy.

Riêng chú thiền sinh tội lỗi kia vẫn quì đấy, đôi dòng lệ lăn dài trên gò má.

Chúng ta dư sức để hiểu được rằng cuộc sống của em thiền sinh này sau đó sẽ ra sao.

Anh chị em yêu quí,

Chúng ta vừa nghe một bài dụ ngôn rất quen thuộc của Chúa Giêsu trong Tin Mừng. Đây là một trong những bài dụ ngôn hay nhất của Chúa. Chính Chúa đã đích thân giải nghĩa dụ ngôn này. Trong ít phút vắn vỏi này, Tôi chỉ xin đưa ra một vài nhận xét để rồi mỗi người chúng ta có thể tự tìm ra cho mình những ý nghĩa có ích cho chính mỗi người chúng ta.

A. Dụ ngôn kể.

* Có một người ra đi.

Ra đi để làm một công việc. Ra đi để gieo hạt giống. Công việc xem ra rất tầm thường, nhưng kết quả của nó rất quan trọng vì nó đem lại lương thực nuôi sống con người. Không có lương thực con người không thể sống.

* Gieo ở đâu anh chị em?

+ Trong dụ ngôn Chúa bảo gieo ở một mảnh đất không được tốt lắm….

Tại sao thế? Thưa vì mảnh đất ấy có chỗ khô cằn như vệ đường. Lại có chỗ có nhiều gai góc. Có chỗ đầy sỏi đá. Rất may là có chỗ đất tốt.

Tôi thấy Chúa ở đất nước Do thái có được một chỗ để gieo như thế cũng là quí lắm rồi vì nước Do thái quê hương của Chúa là nước phần lớn là sa mạc.

B. Bây giờ ta xem kết quả như thế nào? – Kết quả rất khác nhau anh chị em. Tại sao thế ?

Hạt rơi vào mảnh đất khô cằn như vệ đường thì làm sao mà mọc lên được. Không mọc lên thì làm sao có kết quả. Nó sẽ thành mồi ngon cho chim trời mất.

Hạt rơi và chỗ đầy sỏi đá cũng vậy. Dù hạt giống có nảy mầm nhưng làm sao mà lớn lên được. Kết quả là cũng héo khô mà thôi.

Hạt rơi vào chỗ có bụi gai cũng như thế.

Chỉ có những hạt rơi vào đất tốt mới có thể đem lại kết quả. Chúa bảo có hạt được ba mươi, hạt được sáu mươi và hạt được một trăm.

Tới đây thì anh chị em có thể thấy: Hạt giống có sinh hoa kết quả được hay không, không phải do người gieo, vì cùng một người.

Cũng không phải do thời tiết khí hậu. Vì thửa ruộng mà hạt giống được gieo vào tương đối nhỏ…khó có thể có sự khác biệt về khí hậu và thời tiết.

Vậy thì tại đâu anh chị em? Dụ ngôn không cho chúng ta những chỉ dẫn rõ ràng nhưng lại cho chúng ta những chi tiết thật thú vị …qua đó chúng ta có thể thấy được lý do tại sao. Chúng ta có thể nói trắng ra là tại nơi mà hạt giống rơi xuống. Tùy ở chỗ hạt giống rơi xuống có đủ điều kiện cho hạt giống nảy mầm, phát triển và đâm bông để hạt giống có đem lại kết quả tốt hay không.

  + Nơi đất khô, vệ đường….hạt giống không thể nảy mầm….tệ hơn còn bị chim trời đến ăn mất.

  + Nơi chỗ có sỏi đá. Có điều kiện để nảy mầm, nhưng không có điều kiện để phát triển…cho nên không thể đem lại kết quả.

  + Nơi đất có bụi gai…có điều kiện để bén rễ, nảy mầm nhưng vì bị chèn ép cho nên không thể phát triển đúng mức và vì thế hạt giống cũng không thể đem lại kết quả được.

  + Nơi đất tốt...hạt giống đủ điều kiện để nảy mầm, phát triển tốt và đã đem lại những kết quả rốt. Ở đây có một chi tiết khá thú vị….đó là kết quả không đồng đều…hạt được 30, hạt được 60 và hạt được 100. Chúa Giêsu bỏ ngỏ không giải thích tại sao lại có sự sai biệt về kết quả trong khi các hạt giống đã có cùng một điều kiện như nhau như thế này. Như vậy chúng ta thấy vẫn còn một yếu tố khác từ bên ngoài. Chẳng cần phải giải thích dài dòng chúng ta cũng có thể thấy được là đó chính là Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói “Apolo trồng, Phaolô tưới, Thiên Chúa cho mọc lên” Quan niệm thông thường của chúng ta cũng thường nói “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”. Đúng như thế anh chị em. Dù con người có tài tình tới đâu đi nữa mà nếu Thiên Chúa không ban ơn thì mọi sự sẽ thành vô ích. Bởi vậy lúc nào chúng ta cũng phải nhớ đến Chúa để biết ơn Người.

C- Áp dụng.

Chúa đã đến và gieo giữa lòng thế giới Lời Hằng Sống của Ngài. Nhưng có phải là Lời của Chúa lúc nào cũng đem lại kết quả tốt đẹp như lòng Chúa mong ước hay không? Chắc là không. Có kết quả hay không hoặc kết quả nhiều hay ít là tùy ở thái độ và sự đón nhận của con người.

Ngay trong đời sống hằng ngày anh chị em cũng đã thấy điều đó.

Trong Tin Mừng anh chị em thấy có những con người mà lời của Chúa không thể có một chút ảnh hưởng gì tới họ. Đó là những người lòng chai dạ đá, đầu óc đã có sẵn những thành kiến, những ý nghĩa xấu đối với Chúa. Họ đã trở thành chai lỳ…..và hạt giống Lời Chúa không những đã không gây được một ảnh hưởng tốt nào mà ngược lại còn làm cho họ chai lì thêm.Trong Tin Mừng ta thấy một số những người Biệt phái và luật sĩ thuộc vào hạng người này.

Cũng có những người nghe Lời của Chúa mà chẳng hiểu….Anh chị em nhớ lại lúc Chúa giảng bài giảng về bánh hằng sống….Một số môn đệ đã phản ứng rồi sau đó họ đã bỏ Chúa.

Một số khác có đón nhận nhưng như Chúa nói những lo lắng trần gian làm cho Lời Chúa không thấm nhập được vào lòng họ……Anh chị em hãy nhớ câu chuyện của chàng thanh niên giàu có….Anh ta đã bỏ cuộc trên con đường theo Chúa mặc dầu anh rất mến Chúa.

Một số người khác thì có những kết quả thật đẹp. Chúng ta có thể kể ra ở đây trường hợp của đa số các môn đệ của Chúa, trường hợp của Maria Madalena, trường hợp của Giakêu, trường hợp của Nicôđêmô…. và sau này …Augustinô, Phanxicô Xaviê, Têrêsa Hài đồng Giêsu….vv.

Tôi kể cho anh chị em câu chuyện này:

Ngày nọ, một tu sĩ dòng Thánh Phanxicô đến thăm một gia đình. Thấy bà chủ nhà đang khóc, ngài hỏi:

– Có chuyện gì mà buồn phiền vậy?

Bà ta trả lời:

– Thưa, thầy chồng con thường hành hạ con, đôi khi còn đánh đập nữa.

Vị tu sĩ nói:

– Tôi biết bà là một người tốt, vì thế tôi xin tặng cho bà một liều thuốc kỳ diệu.

Người đàn bà thắc mắc hỏi lại:

– Thưa thầy, thuốc gì vậy?

Tu sĩ trả lời:

– Đây bà cầm lấy chai nhỏ này. Mỗi khi chồng ba nổi cơn lôi đình, bà cứ ngậm một hớp nước kỳ diệu chứa trong chiếc chai này cơn giông tố sẽ tan biến một cách huyền nhiệm.

Bà chủ nhà ấy đã thi hành như lời vị thầy tu đáng kính truyền dậy. Do đó, mỗi khi ông chồng nổi cơn la lối om sòm, bà liền kín đáo ngậm vào miệng một hớp nước trong chiếc chai, và đương nhiên bà không thể mở miệng để trả lời. Thấy vợ hiền lành và lặng thinh, ông chồng bình tĩnh trở lại và cơn giận cũng tan theo mây khói ngay lập tức.

Ít lâu sau, vị tu sĩ trở thăm và hỏi:

– Liều thuốc của tôi có hiệu nghiệm chút nào không?

Bà chủ trả lời:

– Thưa thầy, ngậm lâu trong miệng ngụm thuốc của thầy cũng có lúc làm con hơi mệt, nhưng hiệu quả thì thần diệu quá sức. Thầy ạ !

Vị tu sĩ chậm rãi bảo:

– Chắc chắn rồi, nhưng chẳng phải nước lạ chi đâu, chỉ là nước lã bình thường thôi đấy, nước của sự nhẫn nại và chịu đựng, nước của sự hiền hòa bao dung. Tôi có sẵn một chai nước như thế nữa cho chồng bà nữa đây.

Tôi đố anh chị em tâm hồn của người đàn bà trong câu chuyện này thuộc về loại đất nào trong dụ ngôn chúng ta vừa nghe?

– Vệ đường?

– Đất có sỏi đá?

– Đất nhiều gai góc?

– Đất tốt?

………………

Anh chị em hãy xin Chúa biết tâm hồn chúng ta thành mảnh đất tốt để cho Lời Chúa được sinh hoa kết quả và làm cho cuộc đời của mỗi người chúng ta xứng đáng với lòng yêu thương của Chúa hơn. Amen.