Tag Archive for: Mt

11/06 – Thứ Năm tuần 10 thường niên – Thánh Banaba, tông đồ. Lễ nhớ.

“Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không”.

Lời Chúa: Mt 10, 7-13

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: “Các con hãy đi rao giảng rằng: Nước Trời đã gần đến. Hãy chữa những bệnh nhân, hãy làm cho kẻ chết sống lại, hãy làm cho những kẻ phong cùi được sạch và hãy trừ quỷ: Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không.

“Các con chớ mang vàng, bạc, tiền nong trong đai lưng, chớ mang bị đi đường, chớ đem theo hai áo choàng, chớ mang giày dép và gậy gộc: vì thợ thì đáng được nuôi ăn. Khi các con vào thành hay làng nào, hãy hỏi ở nơi đó ai là người xứng đáng, thì ở lại đó cho tới lúc ra đi.

“Khi vào nhà nào, các con hãy chào rằng: “Bình an cho nhà này”. Nếu nhà ấy xứng đáng thì sự bình an của các con sẽ đến với nhà ấy; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì sự bình an của các con sẽ trở về với các con”.

Suy niệm: Trong Do Thái giáo, “Luật Mô-sê” bao gồm những qui định hướng dẫn đời sống dân Chúa trong mọi lĩnh vực, dựa trên thế giá của Mô-sê, người đã lãnh nhận những lề luật ấy từ Thiên Chúa mà nền tảng cốt lõi chính là Mười Điều Răn (x. Xh 20,2-17; Đnl 5,6-21). Thế nhưng, các kinh sư và nhóm Pha-ri-sêu đã biến Lề Luật thành một ‘rừng’ luật chi li tỉ mỉ, nặng hình thức. Đức Giê-su nói Ngài đến “để kiện toàn” Lề Luật, không có nghĩa là đặt thêm những qui định nghiêm ngặt hơn, nhưng là đưa “hồn sống” của Lề Luật vào biến đổi con người từ bên trong, như lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã tiên báo: Chúa sẽ lấy khỏi lòng chúng ta ‘trái tim chai đá’, và ban cho chúng ta ‘trái tim bằng thịt’ và “đặt Thần khí mới” vào lòng (x. Ed 11,19). Mời Bạn: Đời sống đức tin đích thực không chỉ dừng lại ở chỗ “tôn kính Chúa bằng môi bằng miệng mà lòng thì lại xa Chúa” (x. Mt 15,8). Người ta có thể biết rõ phải tha thứ nhưng lòng vẫn giữ nỗi oán giận; biết phải yêu thương nhưng lòng vẫn ích kỷ, đóng kín. Đức tin Ki-tô giáo không chỉ là tiếp nhận một số tín điều và chuẩn mực luân lý và cố giữ mình để không bị coi là vi phạm luật. Trái lại, Chúa mời gọi tuân giữ luật nhưng không “xao lãng lẽ công bằng và lòng yêu mến Thiên Chúa” (Lc 11,42).

Sống Lời Chúa: Xin Chúa giúp ta quyết tâm sửa một tội lỗi hay tật xấu mình thường hay vấp ngã.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, xin giúp con từ bỏ lối giữ đạo chỉ làm cho vừa đủ những điều luật buộc, nhưng cho con luôn làm mọi việc với cả tấm lòng mến Chúa và yêu tha nhân. Amen.

10/06 – Thứ Tư tuần 10 thường niên.

“Thầy không đến để huỷ bỏ, nhưng để kiện toàn”.

Lời Chúa: Mt 5, 17-19

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con đừng tưởng Thầy đến để huỷ bỏ lề luật hay các tiên tri: Thầy không đến để huỷ bỏ, nhưng để kiện toàn.

Vì Thầy bảo thật các con: Cho dù trời đất có qua đi, thì một chấm, một phẩy trong bộ luật cũng không bỏ sót, cho đến khi mọi sự hoàn thành. Bởi vậy, ai huỷ bỏ một trong những điều luật nhỏ mọn nhất, và dạy người khác làm như vậy, sẽ kể là người nhỏ nhất trong Nước Trời; trái lại, ai giữ và dạy người ta giữ những điều đó, sẽ được kể là người cao cả trong Nước Trời”.

Suy niệm: Trong Do Thái giáo, “Luật Mô-sê” bao gồm những qui định hướng dẫn đời sống dân Chúa trong mọi lĩnh vực, dựa trên thế giá của Mô-sê, người đã lãnh nhận những lề luật ấy từ Thiên Chúa mà nền tảng cốt lõi chính là Mười Điều Răn (x. Xh 20,2-17; Đnl 5,6-21). Thế nhưng, các kinh sư và nhóm Pha-ri-sêu đã biến Lề Luật thành một ‘rừng’ luật chi li tỉ mỉ, nặng hình thức. Đức Giê-su nói Ngài đến “để kiện toàn” Lề Luật, không có nghĩa là đặt thêm những qui định nghiêm ngặt hơn, nhưng là đưa “hồn sống” của Lề Luật vào biến đổi con người từ bên trong, như lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã tiên báo: Chúa sẽ lấy khỏi lòng chúng ta ‘trái tim chai đá’, và ban cho chúng ta ‘trái tim bằng thịt’ và “đặt Thần khí mới” vào lòng (x. Ed 11,19). Mời Bạn: Đời sống đức tin đích thực không chỉ dừng lại ở chỗ “tôn kính Chúa bằng môi bằng miệng mà lòng thì lại xa Chúa” (x. Mt 15,8). Người ta có thể biết rõ phải tha thứ nhưng lòng vẫn giữ nỗi oán giận; biết phải yêu thương nhưng lòng vẫn ích kỷ, đóng kín. Đức tin Ki-tô giáo không chỉ là tiếp nhận một số tín điều và chuẩn mực luân lý và cố giữ mình để không bị coi là vi phạm luật. Trái lại, Chúa mời gọi tuân giữ luật nhưng không “xao lãng lẽ công bằng và lòng yêu mến Thiên Chúa” (Lc 11,42).

Sống Lời Chúa: Xin Chúa giúp ta quyết tâm sửa một tội lỗi hay tật xấu mình thường hay vấp ngã.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, xin giúp con từ bỏ lối giữ đạo chỉ làm cho vừa đủ những điều luật buộc, nhưng cho con luôn làm mọi việc với cả tấm lòng mến Chúa và yêu tha nhân. Amen.

09/06 – Thứ Ba tuần 10 thường niên.

“Các con là sự sáng thế gian”.

Lời Chúa: Mt 5, 13-16

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con là muối đất. Nếu muối đã lạt, người ta biết lấy gì mà ướp cho mặn lại? Muối đó không còn xử dụng vào việc chi nữa, chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp lên nó.

Các con là sự sáng thế gian. Một thành phố xây dựng trên núi, không thể che giấu được. Và người ta cũng không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn, hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời”.

Suy niệm: Đặt những huấn dụ về muối ánh sáng ngay sau Tám Mối Phúc Thật trong Bài Giảng Trên Núi, Phúc Âm theo thánh Mát-thêu muốn khẳng định mạnh mẽ rằng sứ mạng loan báo Tin Mừng thuộc về bản chất của người môn đệ. Muối và ánh sáng là những gì rất năng động. Bản chất của muối là mặn; và muối giúp làm mặn thứ khác. Bản chất của ánh sáng là sáng; và ánh sáng giúp soi sáng xung quanh. Điều thú vị là cả muối và ánh sáng đều rất tĩnh lặng. Chúng có thể làm việc hết công suất mà tuyệt nhiên chẳng gây chút ồn ào nào. Chúng tác động một cách bất khả kháng, song cũng rất âm thầm.

Chỉ cần chúng hiện diện đúng như bản chất của mình -là mặn, là sáng- và tự khắc môi trường xung quanh sẽ nhiễm ‘mặn’ và nhiễm ‘sáng’. Thế thôi.

Bạn thân mến, Chúa cũng đang nói với bạn và tôi hôm nay: “Chính anh em là muối và ánh sáng cho trần gian.” Và sứ mạng của chúng ta không hệ tại ở những ồn ào, phô trương ‘hoành tráng’ cho bằng là âm thầm hiện diện đúng như bản chất Ki-tô hữu của mình. Vấn đề là ta có còn mặn sáng không mà thôi. Mời bạn xét lại dưới ánh sáng Tin Mừng: Đâu là phẩm chất mặn sáng mà người Ki-tô hữu phải thể hiện trong cuộc sống tại gia đình, nơi nghề nghiệp của mình?

Sống Lời Chúa: Điều tâm niệm: hôm nay (hay trong việc này) tôi quyết thể hiện phẩm chất “mặn và sáng” của người “môn đệ thừa sai” của Đức Ki-tô.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, xin giúp con trung thành trong sứ mạng làm muối và ánh sáng cho đời. Amen.

08/06 – Thứ Hai tuần 10 thường niên.

“Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó”.

Lời Chúa: Mt. 5, 1-12

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. – Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp. – Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. – Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. – Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. – Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. – Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. – Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ”.

“Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời. Người ta cũng đã từng bắt bớ các tiên tri trước các con như vậy”.

Suy niệm: Những lời tuyên bố của Đức Giê-su trong ‘Bài Giảng trên núi’ có vẻ như là nghịch lý, cụ thể, Chúa nói: người “sầu khổ” lại là người “có phúc”. Thực ra, điều đáng cho ta phải “sầu khổ” nhất chính là tội lỗi, mà đó cũng là điều khiến Chúa phải đau buồn sầu não “đến chết được” (Mt 26,38). Vì thế, một người “sầu khổ” vì tội lỗi đang hoành hành nơi chính mình cũng như ở khắp nơi trên thế giới thì thật là “có phúc” vì họ đang ‘lo buồn, đau đớn’ nỗi đau buồn của Chúa; họ sẽ được an ủi vì Chúa đã chịu chết để “xoá bỏ tội trần gian”, để giải cứu họ khỏi nỗi “sầu khổ” đó.

Bạn thân mến, bạn có còn biết “khóc” không? Khóc cho tội lỗi của mình và của thế giới, cho những bất công mà nhiều người phải chịu? Khi con người còn biết khóc, biết sầu khổ vì tội lỗi của chính mình, thì thật là phúc cho họ, vì họ vẫn còn cơ hội để hoán cải, trở về với Thiên Chúa để hưởng ơn cứu độ. Cũng vậy, khi thế giới vẫn còn biết sầu khổ trước nỗi đau của người nghèo, của chiến tranh và áp bức, thì thật là phúc cho thế giới. ĐGH Pi-ô XII cho biết: tai họa lớn nhất của thế giới ngày nay là mất đi cảm thức về tội lỗi. Khi con người không còn biết “khóc vì tội lỗi”, trái tim họ bị xơ cứng, họ trở nên dửng dưng vô cảm trước sự ác, trước đau khổ của tha nhân.

Sống Lời Chúa: Dành ít phút để suy gẫm và chiêm ngắm Trái Tim giàu lòng thương xót của Chúa và xin Chúa cho bạn một trái tim biết “sầu khổ” vì tội lỗi và vì đau khổ của tha nhân.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin ban cho con một trái tim biết khóc, khóc vì tội lỗi của con, và vì những đau khổ của thế giới. Xin đừng để lòng con trở nên chai đá trước sự dữ. Amen.

17/05 – CHÚA NHẬT 7 PHỤC SINH năm A. CHÚA THĂNG THIÊN. Lễ trọng. Lễ HỌ.

“Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy”.

Lời Chúa: Mt 28, 16-20

Bài kết Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, mười một môn đệ đi về Galilêa, đến núi Chúa Giêsu đã chỉ trước. Khi thấy Người, các ông thờ lạy Người, nhưng có ít kẻ còn hoài nghi.

Chúa Giêsu tiến lại nói với các ông rằng: “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy. Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.

Suy nim: cùng, vi và trong là những cụm từ diễn tả mối tương quan mật thiết nhất của tình yêu. Thiên Chúa là Tình Yêu, nên ngay khi nhập thể làm người, Chúa Giê-su được gọi là Đấng Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên Chúa cùng. Hôm nay kết thúc cuộc đời trần thế trở về trời, Ngài lại nói với các môn đệ “Thy cùng anh em mi ngày cho đến tn thế. Quả thật Ngài đã cùng các môn đệ khi các ngài đi rao giảng Tin Mừng Chúa Phục sinh một cách kiên cường làm chứng nhân cho sự kiện mang tính cứu độ toàn nhân loại và Chúa tiếp tục ở cùng các tín hữu qua các thế hệ và cho đến ngày nay; đặc biệt Ngài luôn ở cùng ta trong bí tích Thánh Thể khi ta lãnh nhận trong Thánh Lễ và ngay lúc ta nghe và sống Lời Ngài.

Bn thân mến, Chúa luôn có mặt trong đời bạn. Ngài luôn ở cùng, ở với và ở trong chúng ta qua Bí Tích Thánh Thể để thêm sức mạnh của tình yêu mến nơi chúng ta. Ngài có đó với chúng ta bằng Lời của Ngài, bằng giáo huấn của Giáo Hội và bằng những chứng nhân yêu thương để là kim chỉ nam hướng dẫn đời sống chúng ta trở nên tốt lành.

Chia s: Trong những biến cố cuộc đời, bạn có nhận ra có Chúa đang ở cùng, để bạn không chán nản, thất vọng và cảm được sức mạnh và thắng vượt chính mình không? Nhất là sau biến cố ấy, bạn có yêu Chúa hơn và biết rằng Chúa luôn yêu bạn không?

Sng Li Chúa: Luôn tâm niệm: Có Chúa đang ở cùng, ở với và ở trong tôi.

Cu nguyn: Chúa ơi, xin cho con luôn ý thc và cm nghim s hin din ca trong con, để sc mnh Chúa giúp con vượt thng mi ni yếu hèn nơi con. Amen.

01/05 – Thứ Sáu tuần 4 Phục Sinh. – Thánh Giuse thợ.

“Ông ta không phải là con bác phó mộc sao?”

Lời Chúa: Mt 13, 54-58

Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà, giảng dạy dân chúng trong hội đường, họ bỡ ngỡ và nói rằng: “Bởi đâu ông này khôn ngoan và tài giỏi như thế? Ông không phải là con bác thợ mộc ư? Mẹ ông không phải là bà Maria? và Giacôbê, Giuse, Simon và Giuđa không phải là anh em của ông sao? Và tất cả chị em của ông không phải ở nơi chúng ta đó sao? Vậy bởi đâu ông được mọi điều ấy như thế?” Và họ lấy làm gai chướng về Người.

Nhưng Chúa Giêsu nói với họ: “Không có tiên tri nào được vinh dự nơi quê hương và nơi nhà mình”.

Và Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ cứng lòng tin.

Suy nim: Sau vụ việc ‘ồn ào’ khi ‘cậu bé Giê-su 12 tuổi’ ở lại trong đền thờ khiến cha mẹ cậu tất tả tìm kiếm suốt ba ngày “gia đám bà con và người quen thuc, thì cậu Giê-su đã theo cha mẹ trở về Na-da-rét “và hng vâng phc các ngài (x. Lc 2,44.51). Từ lúc đó, Đức Giê-su đã nối nghiệp ‘cha nuôi’ Giu-se theo nghề làm thợ để mưu sinh. Thế nên điều mà dân làng Na-da-rét biết về Đức Giê-su chỉ là lai lịch tầm thường là “con bác th của Ngài. Ở một nơi “chng có chi hay như Na-da-rét (x. Ga 1,46), thì cái nghề làm thợ này hẳn là chẳng vẻ vang gì. Nhìn Đức Giê-su bị rẻ rúng như thế, chúng ta có thể cảm nhận được hình ảnh ‘bác thợ Giu-se khiêm nhu’ ngày ấy: Suốt mấy chục năm trời, sống ẩn mình hèn mọn chính là để “chu toàn nhim v Chúa trao phó”, đó là dưỡng nuôi, gìn giữ Đấng Cứu Thế, “trong giai đon đầu ca công trình cu độ.

Mi Bn hãy đến vi thánh c Giu-se  để học nơi ngài. Noi gương thánh cả, bạn chu toàn việc bổn phận cách tận tâm và với lòng khiêm tốn, coi việc phục vụ anh chị em là phục vụ chính Chúa, thì dù đó là những việc nhỏ bé thầm lặng, bạn được thánh hoá bản thân ngay trong cuộc sống đời thường, và qua đó, bạn đáp lại lời Chúa mời gọi tham gia vào công trình cứu độ của Ngài.

Sng Li Chúa: Tâm niệm: tôi làm việc lao động hằng ngày và việc bổn phận của tôi trong gia đình, cộng đoàn trong tinh thần phục vụ khiêm tốn noi gương thánh cả Giu-se.

Cu nguyn: Ly thánh c Giu-se, xin dy con sng khiêm nhu phc v trong cuc sng đời thường ca con. Amen.

06/04 – Thứ Hai tuần BÁT NHẬT PHỤC SINH.

“Hãy đi nói với anh em đến Galilêa mà gặp Ta ở đó”.

Lời Chúa: Mt 28, 8-15

Khi ấy, các bà vội ra khỏi mồ vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Chúa. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: “Chào các bà”. Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: “Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó họ sẽ gặp Ta”.

Đang khi các bà lên đường, thì mấy người lính canh vào thành báo tin cho các thượng tế biết tất cả những gì đã xảy ra. Các thượng tế liền họp với các kỳ lão, và sau khi đã bàn định, họ cho lính một số tiền lớn và bảo rằng: “Các anh hãy nói rằng: Ban đêm khi chúng tôi đang ngủ, thì môn đệ ông đến lấy trộm xác ông. Nếu việc này đến tai tổng trấn, chúng tôi sẽ thương lượng với ông, không để các anh phải phiền hà đâu”.

Bọn lính canh nhận tiền và đã làm y như họ căn dặn chúng. Bởi thế, lời đó được phao truyền nơi người Do-thái cho đến ngày nay.

Suy nim: Nghe lời các thiên thần loan báo, nhóm phụ nữ rời khỏi mộ trong tâm trạng vừa sợ hãi vừa vui mừng. Sợ hãi vì họ đứng trước một mầu nhiệm vượt quá trí hiểu của con người, nhưng vui mừng vì họ nhận ra Chúa đã thực hiện “như li Ngài đã nói trước. Việc họ vi vã” lên đường, không chỉ nói về sự nhanh nhẹn về thể lý, mà còn diễn tả một đức tin đang chuyển động. Họ không chần chừ, do dự nữa, nhưng lập tức “chy v báo cho các môn đệ tin vui lớn lao này. Khi con người thật sự chạm đến mầu nhiệm Phục Sinh, họ không thể dửng dưng hay chậm chạp. Niềm vui Phục Sinh luôn thúc đẩy họ lên đường, mang hy vọng và ánh sáng Tin Mừng đến cho anh chị em mình.

Mi Bn: Chúng ta đã nhiều lần nghe Tin Mừng Phục Sinh, nhưng đôi khi vẫn quanh quẩn bên ‘ngôi mộ’ của chính mình, đó là những thói quen cũ, sự nguội lạnh trong đời sống đức tin và cả những nỗi sợ hãi vô hình. Chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa, và để Lời Ngài phá tung ‘ngôi mộ’ chết chóc ấy và lập tức dấn thân chia sẻ niềm vui phục sinh. Có thể trong lòng bạn vẫn còn bối rối, còn những câu hỏi chưa có lời đáp, nhưng điều quan trọng là bạn dám bước đi. Đức tin không đòi ta phải hiểu hết mọi sự ngay lập tức, nhưng mời gọi ta tín thác vào Chúa và kiên trì bước đi mỗi ngày.

Sng Li Chúa: Thăm viếng một bệnh nhân, lắng nghe và trò chuyện với họ.

Cu nguyn: Ly Chúa Giê-su Phc Sinh, xin cho con cm nghim nim vui được gp Chúa và để cho vui y tr thành động lc thúc đẩy con biết chia s Tin Mng cho tha nhân. Amen.

01/04 – THỨ TƯ TUẦN THÁNH.

“Con Người ra đi như đã được ghi chép sẵn từ trước, nhưng khốn thay cho kẻ sẽ làm cho Ngài bị phản nộp”.

Lời Chúa: Mt 26, 14-25

Khi ấy, một trong nhóm Mười Hai tên là Giuđa Iscariô, đi gặp các thượng tế và thưa với họ: “Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi nộp Người cho các ông?” Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc. Và từ đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người.

Ngày thứ nhất trong tuần lễ ăn Bánh không men, các môn đệ đến thưa Chúa Giêsu rằng: “Thầy muốn chúng con sửa soạn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua ở đâu?” Chúa Giêsu đáp: “Các con hãy vào thành đến với một người kia, và nói rằng: Thầy bảo, giờ Ta đã gần, Ta sẽ mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ tại nhà ông”. Các môn đệ làm như Chúa Giêsu đã truyền và sửa soạn Lễ Vượt Qua.

Chiều đến, Người ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ. Và khi các ông đang ăn, Người nói: “Thầy nói thật với các con: có một người trong các con sẽ nộp Thầy”. Môn đệ rất buồn rầu và từng người bắt đầu hỏi Người: “Thưa Thầy, có phải con không?” Người trả lời: “Kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với Thầy, đó chính là kẻ sẽ nộp Thầy. Thật ra, Con Người sẽ ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người, thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!”

Giuđa kẻ phản bội cũng thưa Người rằng: “Thưa Thầy, có phải con chăng?” Chúa đáp: “Ðúng như con nói”.

Suy nim: Giu-đa hẳn là bị giằng co giữa nhiều mâu thuẫn. Trước đó mấy ngày, ở Bê-ta-ni-a, ông đã phê phán cô Ma-ri-a hoang phí vì dùng bình dầu cam tùng quí giá để xức chân Thầy Giê-su thay vì “bán đi ly 300 quan tin mà lo cho người nghèo (Ga 12,4-5). Nay cũng chính ông lại rắp tâm bán Thầy với giá 30 đồng bạc! Đã vậy, ông còn diễn vai vô tội khi hỏi Thầy: “Ráp-bi, chng l con sao? Giu-đa biết Thầy thấu rõ âm mưu phản bội của ông, nhưng ông vẫn cố chấp trong ý đồ đen tối của mình. Xót xa hơn nữa, chính trong đêm ấy, Giu-đa chọn cách hôn chào Thầy làm ám hiệu cho kẻ thù nhận diện và bắt Thầy (x. Mt 26,48). Dù vậy, Đức Giê-su vẫn yêu thương và ngỏ với ông lời mời gọi hoán cải: “Giu-đa ơi, anh dùng cái hôn mà np Con Người sao? (Lc 22,48). Sự mâu thuẫn lên tới đỉnh điểm khi ông biết Đức Giê-su bị lên án tử. Ông hối hận vì đã phm ti np người vô ti (Mt 27,4). Tiếc thay, ông rơi vào tuyệt vọng, và đã chọn cách tự kết liễu đời mình.

Mi Bn: So sánh với việc Giu-đa phản bội, Phê-rô chối Thầy 3 lần, tội cũng nghiêm trọng không kém. Cũng thế, Phao-lô còn hung hăng hơn, đến tận Đa-mát truy lùng những người tin theo Đức Giê-su “bt trói và gii v Giê-ru-sa-lem trị tội (Cv 9,2). Cùng là có tội, kẻ thì đi tự tử, người thì trở thành đại thánh. Điểm khác biệt ở chỗ Phê-rô và Phao-lô, trông cậy vào lòng nhân từ thương xót của Chúa, sám hối trở về và đón nhận ơn tha thứ và hoán cải. Tất cả chúng ta cũng là tội nhân, nhưng bạn ơi, đừng tuyệt vọng, nhưng hãy ăn năn sám hối để được ơn Chúa thứ tha.

Cu nguyn: Đọc kinh Ăn năn tội.

29/03 – CHÚA NHẬT LỄ LÁ năm A.

“Sự Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

Lời Chúa: Mt 26,14 – 27,66 (bài dài)

C: Người đọc Chung, Thánh Sử; S: Người đối thoại khác, hoặc Cộng đoàn. J: Chúa Giêsu

C. Bài Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, một trong nhóm Mười Hai, tên là Giuđa Iscariô, đi gặp các thượng tế và nói với họ: S. “Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi nộp Người cho các ông?” C. Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc. Và từ đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người. Ngày thứ nhất tuần lễ ăn bánh không men, các môn đệ đến thưa Chúa Giêsu rằng: J. “Thầy muốn chúng con sửa soạn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua ở đâu?” C. Chúa Giêsu đáp: J. “Các con hãy vào thành, đến với một người kia nói rằng: Thầy bảo, giờ Ta đã gần, Ta sẽ mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ tại nhà ông”. C. Các môn đệ làm như Chúa Giêsu truyền và sửa soạn Lễ Vượt Qua. Chiều đến, Người ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ. Và khi các ông đang ăn, Người nói: J. “Thầy nói thật với các con: có một người trong các con sẽ nộp Thầy”. C. Môn đệ rất buồn rầu và từng người bắt đầu hỏi Người: S. “Thưa Thầy, có phải con không?” C. Người trả lời rằng: J. “Kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với Thầy, đó chính là kẻ nộp Thầy. Thực ra, Con Người sẽ ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ sẽ nộp Con Người! Thà người đó đừng sinh ra thì hơn!” C. Giuđa, kẻ phản bội, cũng thưa Người rằng: S. “Thưa Thầy, có phải con chăng?” C. Chúa đáp: J. “Ðúng như con nói”. C. Vậy khi mọi người còn đang ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: J. “Các con hãy cầm lấy mà ăn, vì này là Mình Ta”. C. Ðoạn Người cầm lấy chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đệ mà phán: J. “Tất cả các con hãy uống chén này, vì này là Máu Ta, Máu Tân Ước, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội. Thầy bảo các con: Từ nay, Thầy sẽ không còn uống chất nho này nữa cho đến ngày Thầy sẽ uống rượu mới cùng các con trong nước Cha Thầy”.

C. Sau khi hát thánh vịnh, Thầy trò liền lên núi Ôliu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông: J. “Tất cả các con sẽ vấp phạm vì Thầy trong chính đêm nay, vì có lời chép rằng: “Ta sẽ đánh chủ chăn, và các chiên trong đoàn sẽ tan tác”. Nhưng sau khi Thầy sống lại, Thầy sẽ đến xứ Galilêa trước các con”. C. Phêrô liền thưa: S. “Dù tất cả vấp phạm vì Thầy, riêng con, con sẽ không bao giờ vấp phạm”. C. Chúa Giêsu đáp: J. “Thầy bảo thật con, chính đêm nay, trước khi gà gáy, con sẽ chối Thầy ba lần”. C. Phêrô lại thưa: S. “Dù có phải chết cùng Thầy, con sẽ không chối Thầy”. C. Và tất cả các môn đệ cùng nói như vậy.

Rồi Chúa Giêsu cùng đi với các ông đến một chỗ gọi là Ghếtsêmani, và Người bảo các môn đệ: J. “Các con hãy ngồi đây để Thầy đến đàng kia cầu nguyện”. C. Ðoạn Chúa đưa Phêrô và hai người con ông Giêbêđê cùng đi, Người bắt đầu cảm thấy buồn bực và sầu não. Lúc ấy, Người bảo các ông: J. “Linh hồn Thầy buồn sầu đến nỗi chết được; các con hãy ở lại đây và thức với Thầy”. C. Tiến xa hơn một chút, Người sấp mặt xuống, cầu nguyện và nói: J. “Lạy Cha, nếu được, xin cho Con khỏi chén này! Nhưng đừng như ý Con muốn, một theo ý Cha muốn”. C. Người trở lại cùng các môn đệ và thấy các ông đang ngủ, liền nói với Phêrô: J. “Chẳng lẽ các con không thức cùng Thầy được lấy một giờ ư? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi lâm cơn cám dỗ: vì tinh thần thì lanh lẹ, nhưng xác thịt thì yếu đuối”. C. Rồi Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai mà rằng: J. “Lạy Cha, nếu chén này không thể qua đi được mà Con phải uống, thì xin theo ý Cha”. C. Ðoạn Người trở lại và thấy các ông còn ngủ, vì mắt các ông nặng trĩu. Người để mặc các ông và đi cầu nguyện lần thứ ba, vẫn lại những lời như trước. Sau đó Người trở lại với các môn đệ và bảo: J. “Bây giờ các con hãy ngủ và nghỉ ngơi đi! Này sắp đến giờ Con Người sẽ bị nộp trong tay những kẻ tội lỗi. Các con hãy chỗi dậy. Chúng ta hãy đi: này kẻ nộp Thầy đã tới gần”.

C. Người còn đang nói, thì đây, Giuđa, một trong nhóm mười hai, và cùng với y có lũ đông mang gươm giáo gậy gộc, do các thượng tế và kỳ lão trong dân sai đến. Vậy tên nội công đã dặn họ ám hiệu này: S. “Hễ tôi hôn người nào, thì đó chính là Người, các ông hãy bắt lấy”. C. Tức khắc Giuđa tới gần Chúa Giêsu và nói: S. “Chào Thầy”. C. Và nó hôn Người. Nhưng Chúa Giêsu bảo: J. “Hỡi bạn, bạn đến đây làm chi?” C. Lúc đó chúng xông tới, tra tay bắt Chúa Giêsu. Ngay sau đó, một trong những người vẫn theo Chúa Giêsu, giơ tay rút gươm và chém tên đầy tớ thầy thượng tế đứt một tai. Chúa Giêsu liền bảo: J. “Con hãy xỏ ngay gươm vào bao: vì tất cả những kẻ dùng gươm sẽ chết vì gươm. Nào con tưởng rằng Thầy không thể xin Cha Thầy và Ngài sẽ tức khắc gởi đến hơn mười hai cơ binh thiên thần sao? Mà như thế thì làm sao ứng nghiệm lời Kinh Thánh bảo: Sự thế phải như vậy?” C. Lúc đó Chúa Giêsu nói cùng đám đông rằng: J. “Các ngươi cầm gươm giáo gậy gộc đi bắt Ta như bắt tên cướp ư? Hằng ngày Ta ngồi trong đền thờ, giữa các ngươi, mà các ngươi không bắt Ta. Nhưng tất cả sự đó xảy ra là để ứng nghiệm lời các tiên tri đã chép”. C. Bấy giờ các môn đệ bỏ Người và chạy trốn hết.

Những kẻ đã bắt Chúa Giêsu điệu Người đến thầy thượng tế Caipha. Nơi đây các luật sĩ và kỳ lão đã hội họp. Phêrô theo Người xa xa cho tới dinh thầy thượng tế. Rồi ông vào trong dinh ngồi cùng bọn đầy tớ, xem việc xảy ra thế nào. Vậy các thượng tế và tất cả công nghị tìm chứng gian cáo Chúa Giêsu để lên án xử tử Người. Và họ đã không tìm được, mặc dù đã có một số đông chứng nhân ra mắt. Sau cùng, hai người làm chứng gian đến khai rằng: S. “Người này đã nói: Ta có thể phá đền thờ Thiên Chúa và xây cất lại trong ba ngày”. C. Bấy giờ thầy thượng tế đứng lên nói: S. “Ông không trả lời gì về các điều những người này đã cáo ông ư?” C. Nhưng Chúa Giêsu làm thinh, nên thầy thượng tế bảo Người: S. “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, ta truyền cho ông hãy nói cho chúng ta biết: Ông có phải là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa không?” C. Chúa Giêsu trả lời: J. “Ông đã nói đúng. Nhưng Ta nói thật với các ông: rồi đây các ông sẽ xem thấy Con Người ngự bên hữu Ðấng Toàn Năng, và sẽ đến trên đám mây”. C. Bấy giờ thầy thượng tế xé áo mình ra và nói: S. “Nó đã nói lộng ngôn! Chúng ta còn cần gì đến nhân chứng nữa? Ðây các ngài vừa nghe lời lộng ngôn. Các ngài nghĩ sao?” C. Họ đáp lại:

S. “Nó đáng chết!” C. Bấy giờ chúng nhổ vào mặt Người, đấm đánh Người, lại có kẻ tát vả Người mà nói rằng: S. “Hỡi Kitô, hãy bói xem, ai đánh ông đó?” C. Còn Phêrô ngồi ở ngoài sân. Một đầy tớ gái lại gần và nói: S. “Ông nữa, ông cũng đã theo Giêsu người xứ Galilêa”. C. Nhưng ông chối trước mặt mọi người mà rằng: S. “Tôi không hiểu chị muốn nói gì?” C. Khi ông lui ra đến cổng, một đầy tớ gái khác thấy ông, liền nói với những người ở đó: S. “Ông này cũng theo Giêsu người Nadarét”. C. Ông thề mà chối rằng: S. “Tôi không biết người ấy”. C. Một lúc sau, mấy người đứng đó lại gần mà nói với Phêrô rằng: S. “Ðúng rồi, ngươi cũng thuộc bọn ấy. Vì chính giọng nói của ngươi tiết lộ tông tích ngươi”. C. Bấy giờ ông rủa mà thề rằng: ông không hề biết người ấy. Tức thì gà gáy. Phêrô nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói: “Trước khi gà gáy, con sẽ chối Ta ba lần”, và ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết.

Trời vừa sáng, các thượng tế và kỳ lão trong dân hội họp bày mưu giết Chúa Giêsu. Họ trói Người và điệu đi nộp cho tổng trấn Phongxiô Philatô. Bấy giờ Giuđa, kẻ nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận, đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ lão mà nói rằng: S. “Tôi đã phạm tội vì nộp máu người công chính”. C. Nhưng họ trả lời: S. “Can chi đến chúng tôi! Mặc kệ anh!” C. Anh ta ném những đồng bạc đó vào trong đền thờ và ra đi thắt cổ. Các thượng tế lượm lấy bạc đó và nói: S. “Không nên để bạc này vào kho vì là giá máu”. C. Sau khi bàn bạc, họ lấy tiền đó mua thửa ruộng của người thợ gốm làm nơi chôn cất những người ngoại kiều. Bởi thế, ruộng ấy cho đến ngày nay được gọi là Haselđama, nghĩa là ruộng máu. Như vậy là ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia nói: “Chúng đã lấy ba mươi đồng bạc là giá do con cái Israel đã mặc cả mà bán Ðấng cao trọng. Và họ mang tiền đó mua ruộng của người thợ gốm như lời Chúa đã truyền cho tôi”.

Vậy Chúa Giêsu đứng trước quan tổng trấn, và quan hỏi Người rằng: S. “Ông có phải là Vua dân Do-thái không?” C. Chúa Giêsu đáp: J. “Ông nói đúng!” C. Nhưng khi các thượng tế và kỳ lão tố cáo Người thì Người không trả lời chi cả. Bấy giờ Philatô bảo Người: S. “Ông không nghe thấy tất cả những điều họ tố cáo ông sao?” C. Chúa Giêsu cũng không đáp lại về một điều nào, khiến quan tổng trấn hết sức ngạc nhiên.

Vào mỗi dịp lễ trọng, quan tổng trấn có thói quen phóng thích cho dân một người tù tuỳ ý họ xin. Lúc ấy có một phạm nhân nổi tiếng tên là Baraba. Vậy Philatô nói với dân chúng đã tụ tập lại đó rằng: S. “Các ngươi muốn ta phóng thích ai, Baraba hay Giêsu mà người ta vẫn gọi là Kitô?” C. Quan biết rõ chỉ vì ghen ghét mà chúng đã nộp Người. Vậy trong khi quan ngồi xét xử, bà vợ sai người nói cùng quan rằng: S. “Xin ông đừng can thiệp gì đến vụ người công chính ấy, vì hôm nay trong một giấc chiêm bao, tôi đã phải đau khổ rất nhiều vì người ấy”. C. Nhưng các thượng tế và kỳ lão xúi giục dân xin tha Baraba và giết Chúa Giêsu. Quan lại lên tiếng hỏi họ: S. “Trong hai người đó các ngươi muốn ta phóng thích ai?” C. Họ thưa: S. “Baraba!” C. Philatô hỏi: S. “Vậy đối với Giêsu gọi là Kitô, ta phải làm gì?” C. Họ đồng thanh đáp: S. “Ðóng đinh nó đi!” C. Quan lại hỏi: S. “Nhưng người này đã làm gì nên tội?” C. Chúng càng la to: S. “Ðóng đinh nó đi!” C. Bấy giờ Philatô thấy mất công, lại thêm náo động, nên ông lấy nước rửa tay trước mặt dân chúng và nói: S. “Ta vô can về máu người công chính này, mặc kệ các ngươi”. C. Toàn dân đáp: S. “Hãy để cho máu nó đổ trên chúng tôi và trên con cái chúng tôi”. C. Bấy giờ quan phóng thích Baraba cho họ, còn Chúa Giêsu thì trao cho họ đánh đòn, rồi đem đi đóng đinh vào thập giá.

Bấy giờ lính tổng trấn liền điệu Chúa Giêsu vào trong công đường và tập họp cả cơ đội lại chung quanh Người. Họ lột áo Người ra, khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người và trao vào tay mặt Người một cây sậy, họ quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng rằng: S. “Tâu vua dân Do-thái!” C. Ðoạn họ khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy đập trên đầu Người. Khi đã chế nhạo Người xong, họ lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục cũ lại cho Người và điệu Người đi đóng đinh vào thập giá. Lúc đi ra, họ gặp một người thành Xyrênê tên là Simon, liền bắt ông vác đỡ thánh giá cho Người. Họ đi đến một nơi gọi là Golgotha, nghĩa là Núi Sọ. Họ cho Người uống rượu hoà với mật đắng, Người chỉ nếm qua nhưng không muốn uống. Khi đã đóng đinh Người trên thập giá rồi, họ rút thăm chia nhau áo Người, để ứng nghiệm lời tiên tri rằng: “Chúng đã chia nhau áo Ta, còn áo ngoài của Ta, chúng đã bắt thăm”. Rồi họ ngồi lại canh Người. Họ cũng đặt trên đầu Người bản án viết như sau: Người này là Giêsu, vua dân Do-thái. Lúc ấy, cùng với Người, họ đóng đinh hai tên trộm cướp, một tên bên hữu, một tên bên tả. Những người đi ngang qua, lắc đầu chế diễu Người và nói: S. “Kìa, ngươi là kẻ phá đền thờ và xây cất lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi, nếu là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá đi!” C. Các thượng tế cùng luật sĩ và kỳ lão cũng chế nhạo Người rằng: S. “Nó đã cứu được kẻ khác mà không cứu nổi chính mình! Nếu nó là vua dân Do-thái, thì bây giờ hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta sẽ tin nó. Nó đã trông cậy Thiên Chúa, nếu Ngài thương nó thì bây giờ Ngài hãy cứu nó, vì nó nói: “Ta là Con Thiên Chúa!” C. Cả những tên cướp bị đóng đinh trên thập giá với Người cũng nhục mạ Người như thế. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Vào khoảng giờ thứ chín thì Chúa Giêsu kêu lớn tiếng: J. “Eli, Eli, lema sabachtani!” C. Nghĩa là: J. “Lạy Chúa con, lạy Chúa con! sao Chúa bỏ con!” C. Có mấy người đứng đó nghe vậy nói rằng: S. “Nó gọi tiên tri Elia”. C. Lập tức một người trong bọn chạy đi lấy một miếng bọt biển, nhúng đầy dấm và cuốn vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Nhưng có kẻ lại bảo: S. “Hãy chờ xem Elia có đến cứu nó không?” C. Ðoạn Chúa Giêsu lại kêu lên lớn tiếng và trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Bỗng nhiên màn đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới, đất chuyển động, đá nứt ra. Các mồ mả mở tung và xác của nhiều vị thánh đã qua đời được sống lại. Và sau khi Chúa sống lại, họ ra khỏi mồ, vào thành thánh và hiện ra cùng nhiều người. Còn viên sĩ quan và những kẻ cùng ông canh giữ Chúa Giêsu, thấy đất chuyển động và các sự xảy ra, thì thất kinh sợ hãi và nói: S. “Ðúng người này là Con Thiên Chúa”.

C. Ở đó cũng có nhiều phụ nữ đứng xa xa; họ là những người đã theo giúp Chúa Giêsu từ xứ Galilêa. Trong số đó có Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê và Giuse, và mẹ các người con của Giêbêđê. Tới chiều có một người giàu sang quê ở Arimathia tên là Giuse, cũng đã làm môn đệ Chúa Giêsu, ông đi gặp Philatô và xin xác Chúa Giêsu. Bấy giờ Philatô truyền giao xác cho ông. Vậy ông Giuse lấy xác, liệm trong một khăn sạch, và đặt trong mồ mà ông đã cho đục trong đá, rồi ông lăn một tảng đá lớn lấp cửa mồ lại và ra về. Còn Maria Mađalêna và bà Maria kia cùng ngồi đó nhìn vào mộ. Hôm sau, tức là sau ngày chuẩn bị mừng lễ, các thượng tế và biệt phái đến dinh Philatô trình rằng: S. “Thưa ngài, chúng tôi nhớ, lúc sinh thời tên bịp bợm ấy có nói: “Sau ba ngày, Ta sẽ sống lại”. Vậy xin ngài truyền lệnh cho canh mộ đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ nó lấy trộm xác rồi phao đồn với dân chúng rằng: Người đã từ cõi chết sống lại! Và như thế, sự gian dối này lại còn tai hại hơn trước”. C. Philatô trả lời: S. Các ông đã có lính canh thì cứ đi mà canh như ý. C. Họ liền đi và đóng ấn niêm phong tảng đá và cắt lính canh giữ mồ.

Suy nim: Ngày Lễ Lá khởi đầu bằng một niềm hân hoan, hân hoan rước Chúa vào thành như một vị vua, và kết thúc bằng một nỗi sầu khổ, nỗi sầu khổ Chúa chịu khổ nạn. Bài Thương Khó ngày Lễ Lá còn đem đến cho ta bao điều tương phản khác: môn đệ hèn nhát chạy trốn,  Phi-la-tô hèn nhát rửa tay, Thầy can đảm bình thản đón nhận; đối diện với lửa hận thù hừng hực, Đức Giê-su luôn tỏa ánh sáng dịu dàng của lòng thương xót: thương xót Phê-rô, thương xót người trộm hối cải, thương xót tha thứ cho quân lính độc ác, và cho cả người Do-thái đang nhạo cười; đối diện với những bạo tàn hết cỡ của con người, Đức Giê-su  lại bày tỏ lòng yêu mến cho đến tận cùng của mình.

Mi Bn: Cảm nhận được lòng thương xót yêu thương của Chúa dành cho bạn và mời bạn đừng sống Tuần Thánh, những ngày khổ nạn của Chúa, như một khách qua đường, như đang xem một cuộn phim, mà hãy sống với cả tâm tình yêu mến của mình.

Sng Li Chúa: Dành mỗi ngày vài phút đọc chậm rãi một phần của bài Thương Khó, để nhận ra và cảm nếm lòng yêu thương của Chúa qua từng hoạt cảnh ấy.

Cu nguyn: Ly Chúa Giê-su, chúng con cm t Chúa đã luôn bày t lòng thương xót yêu thương trong cuc Kh nn. Xin cho chúng con cũng biết sng lòng thương xót y vi mi người. Amen.