WHĐ (4.1.2021) – Một người nổi bật trong cuộc đời Chúa Giêsu là thánh Giuse, người cha nuôi, nhưng là một người lặng thầm ít được kể đến trong Thánh Kinh, cũng như trong Thánh Gia.

Thế giới hôm nay cần thánh Giuse hơn bao giờ hết. Con người ngày nay hoang mang, bối rối không tìm thấy ý nghĩa. Ngày nay khi nghĩ đến hôn nhân gia đình người ta lại gặp tư tưởng của ý thức hệ về giới (gender ideology), nên nhiều người bối rối không biết làm đàn ông có nghĩa là gì? Làm đàn bà có nghĩa là gì?

Có lẽ lời cầu thay nguyện giúp và mẫu gương của thánh Giuse là liều thuốc giải độc cho bệnh bối rối hoang mang thời đại này chăng? Tại sao chưa có một lòng sùng kính thánh Giuse phổ biến như lòng sùng kính Đức Maria mà thánh Louis de Monfort đã cổ võ?

Khi nói chúng ta tận hiến cho Chúa nhờ Đức Mẹ hay thánh Giuse có nghĩa là gì? Phải chăng là chúng ta phó dâng mình cho Chúa nhờ qua tay Đức Mẹ hay thánh Giuse chăm sóc về thiêng liêng, vì các ngài là cha mẹ thiêng liêng của chúng ta? Tận hiến nhờ thánh Giuse không loại trừ ta hiến mình nhờ Đức Mẹ. Chúng ta không là thành viên của một gia đình (thiêng liêng) phụ/mẫu đơn thân! Bạn nhìn nhận ngài là người cha thiêng liêng của bạn, và bạn muốn nên giống ngài. Muốn vậy, bạn hiến toàn thân cho thánh nhân để ngài chăm sóc bạn bằng tình thương hiền phụ, hầu giúp bạn có được các nhân đức giống như ngài và để bạn nên thánh. Phần ngài, ngài sẽ yêu thương, quan tâm chăm sóc, bảo trợ và hướng dẫn.

Người đầu tiên hiến mình cho Đức Mẹ và thánh Giuse yêu thương chăm sóc là Chúa Giêsu. Vì thế chúng ta cũng hiến mình cho các ngài chăm sóc giống như Đức Giêsu đã làm khi được các ngài nuôi dưỡng, dạy dỗ, lớn lên. Người sống dưới một mái nhà của các đấng, dưới sự ân cần chăm sóc của các đấng: Người không chỉ chạy đến với Mẹ Người mà còn đến với Bố, thánh Giuse. Hiến mình cho thánh Giuse người bố thiêng liêng, như thế, chúng ta sẽ được trợ giúp lớn lên trong nhân đức và gần gũi với Đức Kitô. Tại sao chúng ta đến với Chúa Giêsu, đến với Đức Mẹ, mà không đến với thánh Giuse? Các ngài là người mẫu hoàn hảo của một gia đình.

Có nhiều vấn đề cuộc sống của người lớn hôm nay phát sinh từ gia đình gốc bất ổn của mình. Có thể đó là những mâu thuẫn, căng thẳng trong quan hệ với người cha, hoặc do vắng bóng người cha, thiếu một tình cảm thân mật thương yêu hay về tinh thần, thiếu đời sống tương tác nhân bản và quan hệ với người cha. Theo dữ liệu của Văn phòng Điều tra dân số Hoa Kỳ 2017, hơn một phần tư trẻ em lớn lên trong một nhà không có bố. Chúng ta có quá nhiều người mang vết thương từ người cha, hoặc “mồ côi” cha; họ không biết làm cha nghĩa là gì, họ chưa bao giờ có kinh nghiệm về tình phụ tử hay về một người cha có mặt trong cuộc đời họ. Bên cạnh khủng hoảng ngày nay về vai trò người cha trong các gia đình, Giáo hội cũng chịu khủng hoảng về vai trò và ơn gọi – sứ vụ người cha thiêng liêng trong chức linh mục, giám mục, hồng y. Bao nhiêu người bị tổn thương bởi các gương mù gần đây trong Giáo hội. Dân Chúa đang rất khao khát và cần có những người cha tốt lành, thánh thiện.

Thánh Giuse là người cha, được chọn làm cha nuôi của Đấng Cứu thế là Chúa, kết hôn với một người phụ nữ tuyệt vời nhất là Mẹ Thiên Chúa, dù thánh nhân không tuyệt đối hoàn hảo, dù không được thọ sinh vô nhiễm nguyên tội như Đức Maria. Đối với chúng ta, đó có thể là cơ hội cho cám dỗ Ma quỉ tấn công. Nhưng thánh nhân đã thắng vượt.

Và đó lại là một điều rất tốt mà về phương diện nhân loại, bạn và tôi thấy rất gần gũi, có thể bắt chước. Vậy, chúng ta “hãy đến với thánh Giuse”. Các đôi bạn sắp kết hôn hãy đến với thánh Giuse và Mẹ Maria, xin các ngài làm cặp đôi đồng hành thiêng liêng, nâng đỡ hướng dẫn, để dâng hiến cuộc sống hôn nhân gia đình. Các bạn nam đến với thánh Giuse để khấn xin được hoàn lại nam tính âm thầm và mạnh mẽ, đầy yêu thương và trách nhiệm. Các bạn nữ đến với thánh Giuse để được kinh nghiệm chữa lành một vết thương nào đó trong một quan hệ quá khứ với người nam. Để thấy nơi ngài là người đàn ông có lòng thanh khiết, nhân đức, yêu mến Chúa, và yêu thương người phụ nữ của mình. Một chủng sinh đang tu tập làm linh mục học để trở nên giống Chúa Giêsu, mà Chúa Giêsu vốn được lớn lên trong tình thương hiền phụ của thánh Giuse – cha trần thế của Người, và của Mẹ Maria – Mẹ của Người. Vậy anh có thể chọn con đường tận hiến nào tốt hơn con đường sống tình yêu và quan hệ phụ tử với thánh Giuse, Đấng Bảo hộ Đấng Cứu Thế?

Gm. Louis Nguyễn Anh Tuấn

WGPSG / CNA – Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ.

Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.”

Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse:

Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)?

Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ – bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.

Lý do để Đức Giáo hoàng công bố Năm Thánh Giuse?

Khi tuyên bố Năm Thánh Giuse, Đức Giáo hoàng Phanxicô lưu ý rằng: Năm nay kỷ niệm 150 năm ngày Giáo hoàng Piô IX tuyên bố Thánh Giuse là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ vào ngày 8-12-1870.

Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết đại dịch coronavirus khiến ngài càng thêm mong muốn suy ngẫm về Thánh Giuse, vì rất nhiều người trong đại dịch đã âm thầm hy sinh để bảo vệ người khác, giống như Thánh Giuse đã âm thầm bảo vệ và chăm sóc Mẹ Maria và Chúa Giêsu.

“Mỗi người chúng ta đều có thể khám phá rằng Thánh Giuse –  một người chẳng được để ý – vẫn hiện diện hằng ngày cách âm thầm kín đáo, để cầu thay nguyện giúp, trợ giúp và hướng dẫn chúng ta khi gặp khó khăn,” Đức Giáo hoàng viết.

Đức Giáo hoàng cũng cho biết ngài muốn nhấn mạnh vai trò của Thánh Giuse trong tư cách là một người cha phục vụ gia đình bằng tình thương và khiêm nhường. Ngài nói thêm: “Thế giới của chúng ta ngày nay cần những người cha”.

Năm Thánh Giuse bắt đầu và kết thúc khi nào?

Năm này bắt đầu từ ngày 8-12-2020 và kết thúc vào ngày 8-12-2021.

Những ân huệ đặc biệt nào được ban trong năm nay?

Khi người Công giáo cầu nguyện và suy ngẫm về cuộc đời của Thánh Giuse trong suốt năm tới, họ có cơ hội nhận được ơn toàn xá, nghĩa là được miễn trừ mọi hình phạt tạm thời do tội lỗi gây ra. Ơn toàn xá này có thể được dành cho bản thân hoặc cho một linh hồn trong luyện ngục.

Ân xá đòi hỏi phải thực hiện một hành động cụ thể do Giáo hội xác định, cùng với việc xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng, và không vướng mắc tội lỗi.

Những ân xá trong Năm Thánh Giuse có thể nhận được nhờ một số lời kinh và hành động khác nhau, bao gồm việc cầu nguyện cho những người thất nghiệp, phó thác công việc hằng ngày của mình cho Thánh Giuse, thực hiện những hành vi của lòng thương xót bên ngoài hay trong lòng, hoặc suy niệm Kinh Lạy Cha ít nhất 30 phút.

Tại sao Giáo hội tôn kính Thánh Giuse?

Người Công giáo không tôn thờ các vị thánh, nhưng cầu xin sự chuyển cầu trên trời của các ngài trước mặt Thiên Chúa và tìm cách noi gương các nhân đức của các ngài trên mặt đất này. Giáo hội Công giáo tôn kính Thánh Giuse là cha nuôi của Chúa Giêsu. Ngài được gọi là vị thánh bảo trợ của Giáo hội hoàn vũ. Ngài cũng là người bảo trợ cho công nhân, cho các người cha, cho mọi người được ơn chết lành.

CNA / Vi Hữu chuyển ngữ / Nguồn: WGPSG

Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 12 năm 2020

Các bạn trẻ thân mến,

Tháng Mười Một vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Tôi Tớ. Tháng Mười Hai này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Ánh Sáng. Theo Kinh Tin Kính, Đức Giê-su là ‘Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng’. Người đã đi Đường Ánh Sáng đến với thế gian để giải phóng con người khỏi cảnh tối tăm, đau khổ cũng như sự chết đời đời và dẫn đưa con người về với Quê Hương Ánh Sáng Vĩnh Cửu là Nước Thiên Chúa.

Từ ‘ánh sáng’ thường được hiểu theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Ánh sáng theo nghĩa đen là ánh sáng tự nhiên hay ánh sáng vật lý (ánh sáng có tính chất sóng và hạt), còn ánh sáng theo nghĩa bóng là ánh sáng siêu nhiên hay ánh sáng hướng con người về thế giới chân, thiện, mỹ. Chúng ta không thể liệt kê đầy đủ tác dụng của ánh sáng tự nhiên đối với con người và muôn vật muôn loài. Ánh sáng tự nhiên cần thiết cho sự sống của thực vật, động vật và con người. Hơn nữa, ánh sáng tự nhiên không chỉ giúp con người nhìn thấy và phân biệt những gì chung quanh mình, mà còn giúp con người thiết lập các mối liên hệ với vạn vật. Trong khi đó, ánh sáng siêu nhiên giúp con người ý thức hơn về phẩm giá của mình giữa muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, đồng thời, giúp con người biết phân định và sống theo những giá trị cốt lõi của môi trường chân, thiện, mỹ. Là con người, ai cũng ý thức rằng càng gần ánh sáng siêu nhiên càng hay, càng xa bóng tối sự dữ càng tốt. Nhờ ánh sáng siêu nhiên soi dẫn, con người được hiện diện, hoạt động và hy vọng về tương lai tốt đẹp hơn, đồng thời, giúp con người giảm thiểu những nỗi sợ hãi và muôn hình thức ám ảnh của thế giới bóng tối.

Theo nội dung đức tin Ki-tô Giáo, ánh sáng và bóng tối là hai chủ đề đối ngược nhau. Ánh sáng là hình ảnh của sự sống, chân thật, thánh thiện, trật tự, vinh quang, tốt đẹp, tỏ hiện, minh bạch, thanh sạch, thành công, hy vọng, thông suốt, niềm vui. Ánh sáng là hình ảnh của những gì thuộc về Môi Trường Thiên Chúa hoặc giúp con người hướng về Môi Trường Thiên Chúa. Ngược lại, bóng tối là hình ảnh của sự chết, giả dối, tội lỗi, hỗn loạn, đau khổ, xấu xa, ẩn giấu, u ám, nhơ bẩn, thất bại, vô vọng, bế tắc, buồn sầu. Bóng tối là hình ảnh của những gì thuộc về ma quỷ, sự dữ và dẫn xuất của chúng. Tuy nhiên, ánh sáng và bóng tối không phải là hai nguồn lực cùng tồn tại song song. Trong nhãn quan mặc khải Ki-tô Giáo, sở dĩ có bóng tối là vì thiếu ánh sáng, sở dĩ có sự ác là vì thiếu sự thiện từ phía con người. Còn về phía Thiên Chúa, tối tăm không thể loại trừ được ánh sáng của Người (Tv 139,12).

Ánh sáng là yếu tố đầu tiên trong công trình Thiên Chúa sáng tạo: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Thiên Chúa phán: Phải có ánh sáng. Liền có ánh sáng. Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối” (St 1,1-4). Trích đoạn này giúp chúng ta nhận thức rằng khi ánh sáng xuất hiện, hỗn mang, tăm tối nhường chỗ cho trật tự, lớp lang. Ánh sáng tốt đẹp vì là ‘sản phẩm đầu tay của Thiên Chúa’, được Thiên Chúa cho xuất hiện trước vạn vật, đồng thời, ánh sáng tham dự vào sự hình thành và phát triển của muôn vật muôn loài. Đó là lý do giải thích tại sao muôn vật muôn loài có tương quan mật thiết với ánh sáng. Kinh nghiệm cho chúng ta nhận thức rằng nếu thiếu ánh sáng, muôn vật muôn loài sẽ không được nhìn thấy, không được nhận diện, không được định dạng. Nếu không có ánh sáng thì tất cả chỉ là tối tăm, hư vô, trống rỗng, không có hình dạng (St 1,2). Không có ánh sáng cũng đồng nghĩa với không có gì chân thật, hài hòa, tiến triển. Trong Cựu Ước, tác giả Thánh Vịnh đã diễn tả rất sâu sắc chân lý này: “Ngài quả là nguồn sống, nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nhìn thấy ánh sáng” (Tv 36,10).

Chủ đề ánh sáng được đề cập và khai triển khá nhiều trong các bản văn Kinh Thánh Cựu Ước, chẳng hạn: “Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, Chúa làm cho ngọn đèn của con sáng tỏ, Ngài soi chiếu vào đời con tăm tối mịt mù” (Tv 18,29); “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119,105); “Mệnh lệnh Chúa xiết bao minh bạch, cho đôi mắt rạng ngời” (Tv 19,9); “Huấn lệnh là ngọn đèn, lời dạy dỗ là ánh sáng” (Cn 6,23); “Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa” (Kn 7,26). Đặc biệt, Lời Chúa trong Cựu Ước đã loan báo về Đức Giê-su là Ánh Sáng của thế gian (φώς τοῦ κόσμου), chẳng hạn: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9,1); “Mặt trời công chính sẽ mọc lên, mang theo các tia sáng chữa lành bệnh” (Ml 3,20).

Trong Tân Ước, hơn ai hết, thánh Gio-an Tông Đồ cho chúng ta những ý tưởng chính yếu về chủ đề ánh sáng như sau: (1) Thiên Chúa là Ánh Sáng: “Thiên Chúa là ánh sáng; nơi Người, không có một chút bóng tối nào” (1 Ga 1,5); (2) Ai hiệp thông với Thiên Chúa thì không đi trong bóng tối: “Nếu chúng ta nói là chúng ta hiệp thông với Người mà lại đi trong bóng tối, thì chúng ta nói dối” (1 Ga 1,6); (3) Ai đi trong ánh sáng thì hiệp thông với nhau và được máu Đức Giê-su thanh tẩy tội lỗi: “Nếu chúng ta đi trong ánh sáng cũng như Thiên Chúa hằng ngự trong ánh sáng, thì chúng ta được hiệp thông với nhau, và máu Đức Giê-su, Con của Người, thanh tẩy chúng ta sạch hết mọi tội lỗi” (1 Ga 1,7); (4) Khi chương trình cứu độ đến thời viên mãn, thì “chính vinh quang Thiên Chúa toả rạng, và Con Chiên là ngọn đèn chiếu soi” và “Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ chiếu sáng trên họ” (Kh 21,23; 22,5). Như vậy, Ánh Sáng của Thiên Chúa là Ánh Sáng được Đức Giê-su thực hiện và diễn tả nhằm thiết lập mối hiệp thông trường cửu giữa Thiên Chúa với con người và giữa con người với nhau. Ánh Sáng đó là khởi điểm và cũng là cùng đích cho những ai được cứu độ.

Thánh Gio-an không chỉ cho chúng ta biết Thiên Chúa là Ánh Sáng, mà còn cho chúng ta biết Đức Giê-su là Ánh Sáng: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Ga 1,1-4). Những câu đầu tiên của Lời Tựa Tin Mừng này gợi lên trong chúng ta những câu đầu tiên của bộ Kinh Thánh (St 1,1-4). Theo thánh Gio-an, Đức Giê-su là Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa và là Thiên Chúa. Nhờ Người, muôn vật muôn loài được tạo thành. Đặc biệt, Người là Ánh Sáng cho nhân loại, nhờ Người, muôn người được Ánh Sáng Thiên Chúa soi dẫn.

Theo thánh Lu-ca, được đầy tràn ơn Chúa Thánh Thần, Da-ca-ri-a đã nói về Đức Giê-su khi Người đang trong lòng mẹ: “Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an” (Lc 1,78-79). Trong biến cố Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se dâng Đức Giê-su vào Đền Thánh, khi bồng ẵm Đức Giê-su, cụ Si-mê-ôn đã cảm nhận được hơi ấm cứu độ và cuộc đời cụ như vậy là mãn nguyện: “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài” (Lc 2,29-32).

Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su nói rằng Thiên Chúa là Ánh Sáng (1 Ga 1,5). Người cũng nói rằng Người là Ánh Sáng (Ga 8,12; 9,5; 12,46). Như vậy, cách gián tiếp, Đức Giê-su cho chúng ta biết Người là Thiên Chúa. Dầu là Ánh Sáng, nhưng Người đã được sinh ra trong đêm tối. Điều này có ý nghĩa quan trọng, bởi vì, Người không chỉ được sinh ra trong đêm tối theo nghĩa tự nhiên mà còn theo nghĩa siêu nhiên: Người được sinh trong đêm tối của thế gian nhuốm màu tội lỗi. Hành trình trần thế của Người là hành trình nối kết tất cả mọi người đang lần bước trong đêm tối. Đặc biệt, Người đã trừ quỷ, tha tội, chữa bệnh, hồi sinh kẻ chết và nâng đỡ những người bị loại trừ trong xã hội. Nói cách khác, Người đã xua đuổi các hình thức bóng tối nhằm đem lại ánh sáng hy vọng cho tất cả mọi người.

Đức Giê-su mở ra viễn cảnh tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa giữa lòng nhân loại. Người không chỉ khẳng định rằng Người là Ánh Sáng, mà còn minh chứng điều đó bằng những hành động cụ thể. Lời nói, việc làm của Người diễn tả quyền năng, danh dự và vinh quang của Thiên Chúa. Đặc biệt, Người có sức lôi cuốn lớn lao đối với những ai lòng ngay thiện chí.

Trong cuộc đối thoại với Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su đề cập đến chủ đề ánh sáng (Ga 3,1-21). Chúng ta biết rằng Ni-cô-đê-mô là người thuộc phái Pha-ri-sêu, người học cao, hiểu rộng. Hình ảnh ông đến với Đức Giê-su ban đêm cho phép chúng ta suy luận rằng ông sáng về tri thức, sáng về địa vị xã hội, sáng về sự giàu có, nhưng lại tối về đời sống nội tâm, tối về thế giới siêu nghiệm, đặc biệt, tối về chương trình của Thiên Chúa đối với nhân loại. Dù sao, việc ông đến với Đức Giê-su cũng diễn tả tâm hồn thiện chí và nỗi khao khát chân lý của ông. Sau khi được Đức Giê-su khai thông, tâm trí ông đã sáng ra và ông đã dõi theo Đức Giê-su trong hành trình trần thế của Người. Các sách Tin Mừng không cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin về Ni-cô-đê-mô, tuy nhiên, chúng ta có thể nhận định rằng, sau cuộc gặp gỡ Đức Giê-su, Ni-cô-đê-mô hằng dõi theo Người (Ga 7,50-51; Ga 19,39-42). Ni-cô-đê-mô rất quảng đại, hào phóng, khi an táng Đức Giê-su, ông đã “mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương” (Ga 19,39). Như vậy, sau khi gặp gỡ Đức Giê-su là Ánh Sáng, ông đã không rời Đức Giê-su ngay cả khi Người đối diện với cái chết, bởi vì ông tin tưởng và hy vọng vào những lời của Đức Giê-su trong cuộc nói chuyện: “Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,14-16).

Khi gặp người mù từ thuở mới sinh, các môn đệ hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” (Ga 9,2). Đức Giê-su trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian” (Ga 9,3-5). Sau đó, Đức Giê-su làm cho người mù được sáng mắt. Chúng ta biết rằng về mặt y khoa, chữa cho người mù từ thuở mới sinh được sáng mắt là chuyện vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, trong câu chuyện này, Đức Giê-su không chỉ chữa lành, Người còn giúp anh nhận ra Người là Ánh Sáng cho thế gian. Với cuộc gặp gỡ Đức Giê-su, anh không chỉ được sáng mắt mà còn ‘sáng lòng’, anh đã tin tưởng vào Đức Giê-su và trở nên nhân chứng của Người cho những người xung quanh. Trong khi đó, những người Pha-ri-sêu sáng mắt nhưng lại ‘tối lòng’, bởi vì họ không nhận ra Đức Giê-su là Ánh Sáng thật cho thế gian, Đấng mà họ luôn mong đợi và rao giảng.

Theo thánh Gio-an, Đức Giê-su thực hiện dấu lạ cuối cùng trước khi bước vào cuộc khổ nạn là cho La-da-rô hồi sinh (Ga 11,1-44). Đây là dấu lạ quan trọng vì La-da-rô đã ở trong bóng tối tử thần bốn ngày, đã nặng mùi rồi (Ga 11,39). Tuy nhiên, Đức Giê-su cho La-da-rô hồi sinh trước sự ngỡ ngàng của chị em Mác-ta, Ma-ri-a, các môn đệ Đức Giê-su và nhiều người khác. Ánh Sáng Đức Giê-su đã chiếu tỏa vào bóng tối của La-da-rô, thức tỉnh La-da-rô và cho La-da-rô được sống. Hồi sinh La-da-rô là dấu lạ lớn lao nhằm gia tăng niềm tin cho các môn đệ cũng như những người khác theo Đức Giê-su. Qua biến cố này, Đức Giê-su hướng tất cả mọi người về sự đau khổ, sự chết và phục sinh của Người nhằm hoàn tất chương trình của Thiên Chúa là đem lại sự sống vĩnh cửu cho tất cả mọi người.

Nhiều lần trong Tin Mừng, Đức Giê-su đề cập đến sự liên kết hai chủ đề quan trọng là sự sống và niềm tin với chủ đề ánh sáng. Chẳng hạn, Người nói với những người Do-thái: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12); “Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi; ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi. Tôi là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối” (Ga 12,44-46). Những lời của Đức Giê-su cho chúng ta thấy sự liên kết mật thiết giữa Người là Ánh Sáng và niềm tin cũng như sự sống đích thật của các tín hữu. Nói cách khác, Đức Giê-su là Ánh Sáng đem lại sự sống đời đời cho những ai tin tưởng, yêu mến và thực thi thánh ý Người.

Đức Giê-su là Ánh Sáng thật. Thánh Gio-an khẳng định: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9). Ánh Sáng Đức Giê-su chiếu soi mọi người, tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều nhận ra điều đó: “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,10-11). Đức Giê-su giải thích tại sao người ta không chấp nhận ánh sáng: “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách” (Ga 3,19-20). Như vậy, để có thể nhận ra Đức Giê-su là Ánh Sáng, con người cần phải từ bỏ môi trường bóng tối, môi trường tội lỗi, môi trường sự dữ.

Nội dung đức tin Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận thức rằng ai không hoán cải, ai không từ bỏ môi trường bóng tối, môi trường sự dữ thì không thể nhận ra Ánh Sáng Đức Giê-su. Ai tự cho mình là tiêu chuẩn, thì không thể tiếp cận Ánh Sáng Đức Giê-su. Chẳng hạn, khi Đức Giê-su được sinh ra ở Bê-lem, các mục đồng và các đạo sĩ nhận ra Ánh Sáng của Người, trong khi những người am hiểu Kinh Thánh, giảng dạy Kinh Thánh và trung thành với truyền thống Do-thái Giáo cách nghiêm ngặt nhất lại không nhận ra. Như thế, việc nhận ra Đức Giê-su là Ánh Sáng thật không lệ thuộc vào danh hiệu, công việc hay gia sản truyền thống mà lệ thuộc vào tâm trí lành mạnh và cảm thức bén nhạy trước các dấu chỉ xuất hiện hằng ngày trong đời sống mình.

Theo thánh Gio-an, người đi trong bóng tối là người ghét anh chị em mình, còn người đi trong ánh sáng là người yêu thương anh chị em mình: “Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối; Ai yêu thương anh em mình thì ở lại trong ánh sáng, và nơi người ấy không có gì nên cớ vấp phạm” (1 Ga 2,9-10). Như vậy, đối với thánh Gio-an ‘đi trong ánh sáng’ hay ‘đi trong bóng tối’ không còn là những ý tưởng trừu tượng nữa, mà là những thực hành cụ thể mà ai cũng có thể làm được. Thánh nhân khẳng định: “Bóng tối đang qua đi và ánh sáng thật đã tỏ rạng” (1 Ga 2,8). Đồng thời, theo thánh nhân: “Thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi” (1 Ga 2,17).

Trong gia đình nhân loại, không ai ‘tối’ đến mức không thể biến đổi được, cũng không ai ‘sáng’ đến mức không cần được Ánh Sáng Đức Giê-su soi dẫn. Tất cả mọi người được mời gọi hướng về Đức Giê-su, Ánh Sáng đích thật. Tất cả mọi người được mời gọi hướng về Đức Giê-su luôn mãi, bởi vì, vẫn còn đó vô số hình thức bóng tối đang hoành hành giữa lòng thế giới. Nếu chúng ta không hướng về Đức Giê-su như cây cối hướng về ánh mặt trời thì chúng ta không thể có được sự sống xứng với phẩm giá của mình và không thể đi đường chính trực để đến với Thiên Chúa. Nếu chúng ta không nhìn nhận bóng tối của lòng trí chúng ta, nếu chúng ta không nhìn nhận có nhiều hình thức bóng tối trong môi trường sống của chúng ta, thì chắc chắn rằng chúng ta đang rơi vào cạm bẫy của thế giới bóng tối và vẫn đắm mình trong thế giới này.

Chúng ta có thể so sánh tâm hồn mỗi người với căn phòng mình ở. Bình thường, chúng ta thấy căn phòng sạch sẽ. Tuy nhiên, khi có ánh sáng mặt trời chiếu vào, chúng ta thấy căn phòng đầy dẫy những hạt bụi li ti bay lượn khắp nơi. Tâm hồn chúng ta cũng vậy, nhiều khi chúng ta nghĩ rằng mình thanh sạch, bởi vì mình luôn tuân giữ lề luật Thiên Chúa và không làm hại ai, tuy nhiên, điều đó chưa đủ. Chẳng hạn, nếu chúng ta chỉ biết tuân giữ lề luật mà không biết làm điều tốt để giúp đỡ anh chị em mình thì chúng ta cũng đang ở trong bóng tối vậy (Mt 25,31-46). Nhờ Ánh Sáng Đức Giê-su soi dẫn, chúng ta sẽ thấy rõ tâm hồn mình nhiều bụi bặm, nhiều sự xấu xa hơn mình tưởng. Đó là lý do giải thích tại sao chúng ta cần phải mở lòng đón nhận Ánh Sáng Đức Giê-su để chúng ta biết rõ tình trạng tâm hồn mình nhiều hơn, từ đó, chúng ta biết cộng tác với Người trong việc biến đổi tâm hồn mình sao cho ngày càng phù hợp với thánh ý Thiên Chúa hơn nữa.

Với trình độ khoa học kỹ thuật hôm nay, con người hầu như có đủ ánh sáng cho đời sống thể lý. Tuy nhiên, xem ra con người đang thiếu thốn ánh sáng siêu nhiên, ánh sáng cho phép con người hiệp thông với Thiên Chúa, với anh chị em mình và với muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo cách phù hợp nhất. Quả thật, con người cần ánh sáng tự nhiên cho đời sống thể xác thế nào thì cũng cần ánh sáng siêu nhiên cho đời sống tâm hồn như vậy. Khi nào con người có được sự hòa hợp giữa đời sống thể xác và đời sống tâm hồn, khi đó con người mới thực sự sống xứng đáng với phẩm giá của mình là thụ tạo được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi trở thành con cái Thiên Chúa (Ga 1,12).

Vì là con cháu của Nguyên Tổ sa ngã, chúng ta trở thành con cái bóng tối. Từ đó, có lời hứa về ánh sáng của ngày kỳ diệu (Is 30,26). Trong ngày đó, con cái ánh sáng sẽ “Đứng lên, bừng sáng lên. Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi” (Is 60,1); “Đức Chúa sẽ là ánh sáng vĩnh cửu chiếu soi ngươi, ánh quang huy của ngươi là Thiên Chúa ngươi thờ” (Is 60,19). Ngày đó chính là ngày Đức Giê-su xuất hiện. Chúng ta biết rằng, tự thân, chúng ta không thể giải thoát mình khỏi thân phận ‘con cái bóng tối’, nhưng nhờ Đức Giê-su là Ánh Sáng, chúng ta trở thành ‘con cái Ánh Sáng’. Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói: “Ánh sáng còn ở giữa các ông ít lâu nữa thôi. Các ông hãy bước đi, bao lâu các ông còn có ánh sáng, kẻo bóng tối bắt chợt các ông. Ai bước đi trong bóng tối, thì không biết mình đi đâu. Bao lâu các ông còn có ánh sáng, hãy tin vào ánh sáng, để trở nên con cái ánh sáng” (Ga 12,35-36). Còn thánh Phao-lô minh định: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5,8-9). Cũng theo thánh nhân: “Tất cả anh em là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày. Chúng ta không thuộc về đêm, cũng không thuộc về bóng tối” (1 Tx 5,5).

Sau khi công bố Tám Mối Phúc, Đức Giê-su nói với các môn đệ và những người đang lắng nghe: “Anh em là ánh sáng cho thế gian” (Mt 5,14). Đồng thời, Người cũng nói: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16). Điều Đức Giê-su muốn diễn tả về những người sống Tám Mối Phúc chính là những người đón nhận Ánh Sáng Đức Giê-su, sống theo Ánh Sáng Đức Giê-su và phản chiếu Ánh Sáng Đức Giê-su cho mọi người. Đây là bài học lớn cho mỗi người chúng ta, bởi vì, là Ki-tô hữu, chúng ta được mời gọi trở thành con cái Ánh Sáng, nhưng lắm lúc chúng ta đắm mình trong thế giới bóng tối. Hơn nữa, chúng ta cần ý thức rằng nếu chúng ta không có khả năng đón nhận, sống và phản chiếu Ánh Sáng Đức Giê-su cho người khác thì ít ra chúng ta đừng trở thành vật cản Ánh Sáng Đức Giê-su đến với họ.

Đức Giê-su là Ánh Sáng thế gian, do đó, Tin Mừng của Đức Giê-su chính là Tin Mừng Ánh Sáng cho mọi người. Thánh Gio-an Tẩy Giả đã khiêm tốn làm chứng cho Đức Giê-su và Tin Mừng Ánh Sáng của Người cách hữu hiệu và triệt để nhất: “Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng” (Ga 1,6-9). Với kinh nghiệm gặp gỡ và được Ánh Sáng Đức Giê-su soi dẫn, hai thánh Phao-lô và Ba-na-ba đã trở nên khí cụ hữu hiệu của Người. Các ngài khẳng định: “Chúa truyền cho chúng tôi thế này: Ta sẽ đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng cõi đất” (Cv 13,47). Trong diễn từ trước mặt vua Ác-ríp-pa, thánh Phao-lô quả quyết: “Đấng Ki-tô sẽ chịu đau khổ và là người đầu tiên sống lại từ cõi chết, để loan báo ánh sáng cho dân Do-thái cũng như cho các dân ngoại” (Cv 26,23). Tiếp tục gia sản các tông đồ để lại và ý thức về căn tính, đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội giữa lòng thế giới, Công Đồng Vatican II tuyên bố: “Ánh sáng muôn dân chính là Chúa Kitô, nên Thánh Công Ðồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Chúa phản chiếu trên dung nhan Giáo Hội, bằng việc rao truyền Phúc Âm cho mọi tạo vật” (LG 1). Như thế, Ánh Sáng Đức Giê-su là Ánh Sáng cần được loan báo, cần được chia sẻ, cần được trao ban cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại.

Hơn nữa, Ánh Sáng Thiên Chúa, Ánh Sáng Đức Giê-su cũng là Ánh Sáng xét xử mọi người. Tư tưởng này đã được diễn tả trong Cựu Ước, chẳng hạn: “Đức Chúa là thẩm phán công minh đã phơi bày ra ánh sáng những điều bí ẩn” (2 Mcb 12,41); “Thiên Chúa vạch trần những tối tăm bí ẩn, phơi bày bóng tối tử thần ra ánh sáng” (G 12,22); “Người [Đức Chúa] mặc khải điều thẳm sâu và bí ẩn: Người biết những gì ở trong cõi tối tăm, và ánh sáng ở với Người” (Đn 2,22). Trong Tân Ước, được Ánh Sáng Phục Sinh của Đức Giê-su biến đổi, thánh Phao-lô viết: “Tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra; mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng” (Ep 5,13-14). Ngài cũng viết: “Xin anh em đừng vội xét xử điều gì trước kỳ hạn, trước ngày Chúa đến. Chính Người sẽ đưa ra ánh sáng những gì ẩn khuất trong bóng tối, và phơi bày những ý định trong thâm tâm con người” (1 Cr 4,5). Chúng ta cần để tâm suy niệm giáo lý này và áp dụng vào đời sống bằng cách luôn ý thức rằng khi chúng ta không có đủ ánh sáng cần thiết, chúng ta đừng phán xét người khác. Thông thường, chúng ta hay phán xét người khác dựa trên cảm tính bất ổn của chúng ta hay dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng. Hậu quả là chúng ta gây tổn thương lớn cho người khác và nhiều khi không thể bù đắp được. Do đó, cách tốt nhất và duy nhất để chúng ta có được sự hiểu biết đúng đắn về con người hay sự vật, hiện tượng nào đó là chúng ta hãy đi Đường Ánh Sáng Đức Giê-su và nhìn nhận mọi sự dưới Lăng Kính Ánh Sáng này.

Như đã được trình bày ở trên, theo mặc khải Kinh Thánh, ánh sáng và bóng tối không phải là hai ‘quyền lực’ cân tài ngang sức, hai quyền lực tương đương hay bằng nhau. Ánh Sáng Đức Giê-su là Ánh Sáng Vĩnh Cửu. Ánh Sáng Đức Giê-su luôn mạnh mẽ hơn các hình thức bóng tối của ma quỷ, thế gian, xác thịt. Tiếng nói cuối cùng của nhân loại, của toàn thể thế giới thụ tạo không phải là tiếng nói của bóng tối, nhưng là tiếng nói của Ánh Sáng. Theo thánh Gio-an: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1,5). Các Ki-tô hữu được mời gọi cộng tác với Đức Giê-su và với nhau để thanh tẩy muôn hình thức bóng tối trong cộng đoàn mình, chẳng hạn, bóng tối của sự chia rẽ lòng người, bóng tối của sự hận thù ghen ghét, bóng tối của sự giấu mặt vu oan, bóng tối của sự phổ biến thông tin nặc danh gây phương hại cho người khác, bóng tối của sự đồng lõa trong việc làm cho sự dữ lan truyền.

Với sự hiện diện và hoạt động của Đức Giê-su giữa lòng nhân thế, thời cánh chung đã bắt đầu: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô viết: “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày” (Rm 13,12-13). Quả thật, càng ngày chúng ta càng gần với cánh chung của đời mình hơn, nghĩa là càng ngày chúng ta càng gần hơn với biến cố kết thúc hành trình trần thế của mình. Đức Giê-su là Ánh Sáng, là ‘Ngày’ của chúng ta. Do đó, như lời thánh Phao-lô, chúng ta hãy cởi bỏ con người cũ và mặc lấy Khí Giới Ánh Sáng Đức Giê-su để luôn được biến đổi, được tỏa sáng và cộng tác với Người trong việc chiếu rọi Ánh Sáng vào chốn tối tăm ở bất cứ nơi đâu chúng ta hiện diện và hoạt động (Rm 13,11-14).

Chương trình Thiên Chúa đối với nhân loại được thực hiện nhờ Đức Giê-su có thể tóm lược vào ba điểm chính: (1) Đức Giê-su là Ánh Sáng, Người đã đi Đường Ánh Sáng để đến với nhân loại; (2) Các Ki-tô hữu được mời gọi sống theo Đường Ánh Sáng của Người; (3) Các Ki-tô hữu được mời gọi phản chiếu Ánh Sáng của Người trong môi trường sống của mình. Viễn cảnh cánh chung của những ai đi Đường Ánh Sáng và phản chiếu Ánh Sáng Đức Giê-su được tác giả sách Khải Huyền (cuốn sách cuối cùng và cũng là chương cuối cùng của Bộ Kinh Thánh) diễn tả: “Các tôi tớ Thiên Chúa sẽ được nhìn thấy tôn nhan Người, và thánh danh Người ghi trên trán họ. Sẽ không còn đêm tối nữa, họ sẽ không cần ánh sáng của đèn, cũng chẳng cần ánh sáng mặt trời, vì Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ chiếu sáng trên họ, và họ sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời” (Kh 22,4-5).

Những điểm được trình bày trên đây giúp chúng ta có được nhận thức tổng quát rằng Thiên Chúa hằng yêu thương nhân loại. Người đã sai Con của Người là Đức Giê-su đi Đường Ánh Sáng để đến với mọi người. Biến Cố Đức Giê-su hiện diện và hoạt động giữa lòng nhân thế, đặc biệt, việc mạc khải Người là Ánh Sáng thế gian làm nổi bật cuộc xung đột giữa ánh sáng và bóng tối trên phương diện luân lý: Ánh sáng xác định phẩm tính các lãnh vực thuộc về Thiên Chúa và Đức Giê-su, trong khi đó bóng tối xác định phẩm tính các lãnh vực thuộc về ma quỷ và sự dữ. Con người bị giằng co giữa hai thái cực phải chọn lựa để trở thành ‘con cái ánh sáng’ hoặc ‘con cái bóng tối’. Nhờ Đức Giê-su chiếu rọi, chúng ta trở thành con cái Ánh Sáng. Do đó, chúng ta hãy sống sao cho xứng đáng với phẩm giá của mình. Trong hành trình dương thế, Đức Giê-su đã tới thung lũng tối tăm nhất của thân phận con người là thung lũng sự chết. Nhờ đó, chúng ta được Thiên Chúa “gọi ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền” (1 Pr 2,9) và được “chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh trong cõi đầy ánh sáng”“vương quốc Thánh Tử chí ái” (Cl 1,12-13).

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên
Ủy ban Giới Trẻ và Thiếu Nhi / HĐGM VN

Các chủ đề học hỏi và suy niệm năm 2020:

Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 11 năm 2020

Các bạn trẻ thân mến,

Tháng Mười vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Khiêm Hạ. Tháng Mười Một này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Tôi Tớ. Người đã khởi đầu con đường này bằng việc trút bỏ chính mình để thi hành sứ mệnh của Thiên Chúa giữa trần gian. Trong thân phận con người, Đức Giê-su đã trở thành Người Tôi Tớ của Thiên Chúa để yêu thương và phục vụ nhằm khôi phục phẩm giá mọi người, đồng thời, giúp mọi người trở thành con cái Thiên Chúa.

Thông thường, khái niệm ‘tôi tớ’ (servant) chỉ người phục vụ, hầu hạ hoặc người được ủy thác để làm những công việc của chủ mình, đặc biệt là phục vụ bàn ăn. Người tôi tớ luôn sẵn sàng vâng phục, thi hành ý muốn của chủ, trao đổi, tiếp xúc với chủ cũng như những người khác bằng trái tim cháy bỏng, ánh mắt thông hiểu và đôi tay chai sạn. Tất cả những gì mà người tôi tớ thực hiện nhằm đem lại sự dễ chịu cho chủ hay người mình chăm sóc. Khái niệm ‘tôi tớ’ còn được sử dụng theo nghĩa rộng hơn, chẳng hạn như tôi tớ nhân dân hay tôi tớ mọi người.

Trong Giáo Hội Công Giáo, Tôi Tớ Thiên Chúa (Servus Dei, Servant of God) là bậc đầu tiên trong tiến trình phong thánh. Từ bậc Tôi Tớ Thiên Chúa, tiến trình điều tra bắt đầu để tìm hiểu những nhân đức trổi vượt của người được đề nghị tuyên phong hiển thánh. Sau bậc Tôi Tớ Thiên Chúa là bậc Đáng Kính (Venerable), Chân Phước (Blessed) và Hiển Thánh (Saint). Chúng ta cũng cần phân biệt tước hiệu Tôi Tớ Thiên Chúa của người trong tiến trình được phong thánh với tước hiệu Tôi Tớ Của Các Tôi Tớ (Servus Servorum Dei, Servant of the Servants of God), một trong những tước hiệu của các Đức Giáo Hoàng. Người đầu tiên dùng tước hiệu này là thánh Giáo Hoàng Grê-gô-ri-ô Cả (540-604, thi hành tác vụ Mục Tử Giáo Hội hoàn vũ trong khoảng thời gian 590-604). Đây là tước hiệu diễn tả sự khiêm hạ của người kế vị thánh Phê-rô trong Giáo Hội do Đức Giê-su thiết lập. Từ thế kỷ XII trở đi, tước hiệu này được hầu hết các Đức Giáo Hoàng sử dụng.

Hình ảnh ‘chủ – tớ’ thường được dùng trong Kinh Thánh để chỉ tương quan giữa Thiên Chúa và con người, trong đó Thiên Chúa là ‘Chủ’, con người là ‘tớ’. Các nhân vật điển hình trong Kinh Thánh như Nô-ê, Áp-ra-ham, Gia-cóp và con cháu ông, Mô-sê, Đa-vít, Đức Ma-ri-a, thánh Giu-se, thánh Gio-an Tẩy Giả được gọi là các tôi tớ Thiên Chúa. Chẳng hạn, Lời Chúa trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a: “Còn ngươi, hỡi Gia-cóp, tôi tớ của Ta, đừng sợ hãi” (Gr 46,28). Tác giả Thánh Vịnh 123 viết: “Như mắt của gia nhân hướng nhìn tay ông chủ, như mắt của nữ tỳ hướng nhìn tay bà chủ, mắt chúng ta cũng hướng nhìn lên Chúa là Thiên Chúa chúng ta” (Tv 123,2). Đức Ma-ri-a nói với sứ thần Gáp-ri-en: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Các tôi tớ Thiên Chúa trong Kinh Thánh là hình ảnh báo trước sự xuất hiện của Đức Giê-su, Người Tôi Tớ của Thiên Chúa và cũng là Người Tôi Tớ của Giao Ước Mới giữa Thiên Chúa và loài người.

Khoảng 700 năm trước Đức Giê-su, ngôn sứ I-sai-a đã loan báo về Người Tôi Tớ của Thiên Chúa: “Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới. Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề. Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53,2-5). Trước khi Đức Giê-su xuất hiện, lịch sử nhân loại chưa từng ghi nhận người tôi tớ nào như I-sai-a diễn tả ở trên. Nói cách khác, những lời đó đã được ứng nghiệm nơi Đức Giê-su trong hành trình trần thế. Chính thánh Phê-rô cũng đã khẳng định như thế khi viết: “Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì anh em…Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe; nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình. Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành“ (1 Pr 2,21-24).

Ngôn sứ I-sai-a cho chúng ta nhận thức rằng Đức Giê-su không chỉ là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa (Servant of God) mà còn là Người Tôi Tớ Đau Khổ của Thiên Chúa (the Suffering Servant of God), bởi vì Người đã mang lấy toàn bộ những khiếm khuyết, tội lỗi và sự chết của nhân loại. Trong hành trình trần thế, Đức Giê-su diễn tả mình là Người Tôi Tớ Đau Khổ của Thiên Chúa để thông phần với những đau khổ của nhân loại hơn là thực thi những chiến công hiển hách nhằm minh chứng quyền năng của Người. Câu hỏi đặt ra là tại sao gia đình nhân loại phải cần đến Người Tôi Tớ Đau Khổ của Thiên Chúa? Thưa, tại vì con người không có khả năng giải thoát mình khỏi tất cả các hình thức đau khổ và sự chết. Chỉ có Người Tôi Tớ Đau Khổ của Thiên Chúa mới có thể làm được những điều đó.

Đức Giê-su là Thiên Chúa, nhưng Người diễn tả uy quyền của Người trong thân phận Người Tôi Tớ qua sự cảm thông, chia sẻ, phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo khổ, cùng cực, bị áp bức và muôn hình thức đau khổ khác. Uy quyền của Đức Giê-su khác với uy quyền của những người đương thời, chẳng hạn, khác với uy quyền của tầng lớp lãnh đạo thuộc đế chế Rô-ma đang cai trị vùng Pa-lét-tin. Uy quyền của Đức Giê-su khác với uy quyền của những người lãnh đạo dân sự hay tôn giáo trong xã hội Do-thái. Trong khi các vị lãnh đạo dân sự hay tôn giáo Do-thái xem mình như là những người quan trọng, ‘những hoàng tử’ của dân tộc, Đức Giê-su diễn tả mình như Người Tôi Tớ tận tình hiến thân phục vụ mọi người.

Để diễn tả tương quan giữa con người và Thiên Chúa cách cụ thể hơn, Đức Giê-su cũng đã dùng hình ảnh ‘chủ – tớ’. Chẳng hạn, Người dạy các môn đệ phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng thi hành tác vụ của mình để chuẩn bị gặp gỡ Thiên Chúa: “Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ” (Lc 12,35-37). Người cũng nói với họ cần phải phục vụ chủ mình cách chân tình, khiêm tốn: “Khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17,9-10). Đối với Đức Giê-su, con người chỉ có thể trở nên vĩ đại khi tận tình phục vụ anh chị em mình bằng trái tim đầy lòng thương xót.

Đức Giê-su còn dùng hình ảnh ‘chủ – tớ’ để diễn tả tình yêu thương trắc ẩn giữa con người với nhau. Dụ ngôn ‘tên đầy tớ mắc nợ không biết thương xót’ cho chúng ta hiểu biết điều đó (Mt 18,23-35). Theo dụ ngôn này, tên đầy tớ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng (khoảng 60 triệu ngày công). Vì thương cảm hoàn cảnh túng thiếu, vua đã tha nợ cho ông. Tuy nhiên, khi gặp đồng bạn mắc nợ ông chỉ một trăm quan tiền (khoảng 100 ngày công) thì ông lại bóp cổ đồng bạn bắt trả nợ bằng được. Cuối cùng thì câu chuyện cũng đến tai vua và tên đầy tớ phải chịu cực hình vì không biết thương xót người khác như đức vua đã thương xót ông. Quả thật, ông là đầy tớ của vua, nhưng lại là chủ nợ của đồng bạn. Đáng lẽ, tình yêu của đức vua phải được chia sẻ và lan tỏa tới đồng bạn của ông. Tuy nhiên, vì nhỏ nhen ích kỷ, ông đã đối xử tàn nhẫn với đồng bạn mình và phải gánh lấy hậu quả xứng hợp.

Trong xã hội Do-thái thời Đức Giê-su, những người lãnh đạo, chẳng hạn như các luật sĩ, biệt phái không bao giờ quan tâm đến vai trò tôi tớ, vai trò phục vụ của mình. Họ xem mình là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, được sinh ra để ăn trên ngồi trốc. Não trạng của họ luôn là não trạng ‘kẻ cả’ như thể họ được sinh ra là để được tôn vinh chứ không tôn vinh ai, để lãnh đạo chứ không phục vụ ai, để ra lệnh chứ không vâng lời ai, để giảng dạy chứ không học hỏi ai, để lên tiếng chứ không lắng nghe ai. Họ luôn ‘giữ khoảng cách’ với những người thuộc các tầng lớp thấp kém hơn mình, nhất là những người mà họ xem là ngoại bang, tội lỗi. Hình ảnh của họ hoàn toàn trái ngược với hình ảnh Đức Giê-su, Người Tôi Tớ. Trong thời gian ba năm Người rao giảng Tin Mừng cách công khai cũng là thời gian Người dấn thân thi hành vai trò tôi tớ phục vụ, đặc biệt, lời nói và việc làm của Người luôn đi đôi với nhau.

Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ mình. Đối với các nền văn hóa trên thế giới, đặc biệt vùng Pa-lét-tin, vua rửa chân cho dân, thầy rửa chân cho trò, chủ rửa chân cho tớ là điều không thể tưởng được. Tuy nhiên, với Đức Giê-su, điều khó tin đã trở thành hiện thực. Chúng ta biết rằng thời Đức Giê-su, đường sá bụi bặm, thông thường khi chủ nhà đi đâu về thì tôi tớ rửa chân cho chủ nhà hay khi chủ nhà mời bạn bè tới dự tiệc, thì chủ nhà cũng sai tôi tớ rửa chân cho họ để tỏ lòng hiếu khách. Trong bối cảnh Đức Giê-su và các môn đệ mừng Lễ Vượt Qua, không có ai là tôi tớ cả và Đức Giê-su đã tự mình trở thành tôi tớ rửa chân cho các môn đệ. Với Đức Giê-su, trật tự vua – dân, thầy – trò, chủ – tớ đã hoàn toàn thay đổi.

Việc Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ diễn tả sự gần gũi của Thiên Chúa với con người. Điều này có nghĩa rằng Thiên Chúa không còn ở xa con người nữa, Thiên Chúa không chỉ giam hãm mình trong thế giới linh tượng như một số triết gia Hy-lạp chủ trương. Thiên Chúa đích thật là Đấng Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Với Đức Giê-su, Thiên Chúa ở gần con người hơn con người có thể tưởng nghĩ, bởi vì, qua việc rửa chân, Thiên Chúa đã đụng chạm đến da thịt con người. Thiên Chúa gần gũi con người hơn con người gần gũi anh chị em thân thuộc. Theo ngôn ngữ của thánh Au-gút-ti-nô, Thiên Chúa ở gần con người hơn con người với chính mình.

Việc Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ diễn ra trong bối cảnh Người chuẩn bị bước vào cuộc khổ nạn. Thông thường, trước cảnh bi thương sắp xảy đến, ai cũng lo lắng, buồn sầu và có những hành xử tiêu cực. Tuy nhiên, Đức Giê-su cho chúng ta thấy rằng Người không hành xử theo cách đó. Trái lại, Người diễn tả tình yêu phục vụ của Người ở mức độ cao cả nhất. Cũng trong biến cố này, Đức Giê-su đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể và công bố Giới Răn Mới, Giới Răn Yêu Thương, yêu thương đến nỗi gọi các môn đệ của mình là bạn, yêu thương đến nỗi chết cho bạn hữu của mình (Ga 15,13-15).

Đức Giê-su không chỉ rửa chân cho ‘các môn đệ tốt lành’, mà còn rửa chân cho Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, môn đệ phản bội. Người ta tranh luận nhiều về mục đích Giu-đa Ít-ca-ri-ốt bán Đức Giê-su. Có người cho rằng Giu-đa Ít-ca-ri-ốt bán Đức Giê-su vì mục đích tốt là để Đức Giê-su sớm ra tay quyền lực tiêu diệt mọi quân thù. Nhờ đó, Ít-ra-en sẽ trở nên hùng cường với Đức Giê-su là Vua, còn các môn đệ trở thành những bậc vị vọng trong đất nước. Tuy nhiên, cho dù là mục đích tốt thì việc Giu-đa Ít-ca-ri-ốt bán Thầy mình là không thể chấp nhận được, bởi vì ‘mục đích tốt không biện minh cho phương tiện xấu’. Đức Giê-su đã cho Giu-đa Ít-ca-ri-ốt cơ hội để hoán cải nhưng Giu-đa Ít-ca-ri-ốt vẫn cố chấp theo chương trình mà bản thân định sẵn. Việc Đức Giê-su rửa chân cho Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là bài học quý giá cho chúng ta, bởi vì, chúng ta thường yêu thương, phục vụ những người đối xử tốt với chúng ta, chứ không yêu thương, phục vụ những người đối xử xấu với chúng ta.

Phao-lô là khuôn mặt phản diện của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt. Sau khi gặp gỡ Đức Giê-su Phục Sinh, ngài được biến đổi hoàn toàn. Ngài đã nhận thức được bổn phận của mình trong việc loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người cho anh chị em đồng loại. Với Phao-lô, Đức Giê-su không chỉ là Người Tôi Tớ mà còn là Người Nô Lệ. Đức Giê-su mang lấy thân phận nô lệ để giải phóng con người khỏi các hình thức nô lệ, đặc biệt, nô lệ tội lỗi và sự chết. Hơn ai hết, Phao-lô là người diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của Đức Giê-su cách ngắn gọn và đầy đủ nhất: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8). Hai động từ rất quan trọng trong trích đoạn này là ‘trút bỏ’ và ‘mặc lấy’. Đây là hai động từ chính yếu diễn tả chương trình Đức Giê-su giữa lòng thế giới. Trong nhãn quan của Phao-lô, Đức Giê-su vừa ‘trút bỏ vinh quang’, vừa ‘mặc lấy thân nô lệ’ nữa. Những tôi tớ hay nô lệ khác trong xã hội loài người không ‘trút bỏ’, không ‘mặc lấy’, không phải tự mình trở thành tôi tớ hay nô lệ như Đức Giê-su.

Chúng ta nhận thức rằng Đức Giê-su có thể ‘trút bỏ vinh quang’ và ‘mặc lấy thân phận’ của bất cứ hạng người nào đó trong môi trường nhân loại, chẳng hạn như một vị vua, một vị hoàng tử, một vị tướng lãnh, một vị tư tế hay một thường dân. Câu hỏi đặt ra là ‘tại sao Đức Giê-su lại mặc lấy thân nô lệ?’. Thưa, tại vì con người trở thành nô lệ của tội lỗi và sự chết, do đó, Đức Giê-su mặc lấy thân nô lệ để giải phóng con người khỏi tội lỗi và sự chết, không chỉ là sự chết thể lý (chết tự nhiên) hay sự chết luân lý (phạm tội trọng) mà còn là sự chết vĩnh cửu. Điều này diễn tả tình yêu vô bờ của Thiên Chúa và đường lối đặc biệt của Người đối với tất cả mọi người. Đức Giê-su vô tội, nhưng đã mang lấy thân phận tôi tớ, thân phận nô lệ để liên đới với con người trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt trong đau khổ và sự chết.

Những diễn tả của thánh Phao-lô về Đức Giê-su giúp chúng ta nhớ lại câu chuyện Giu-se, một trong mười hai người con trai của Gia-cóp trong Cựu Ước. Giu-se bị các anh mình bán sang Ai-cập như một nô lệ (St 37,1-36). Tuy nhiên, Thiên Chúa đã biến sự dữ thành sự lành, Giu-se đã được trọng dụng và trở nên người quan trọng của triều đình Ai-cập. Trong cảnh đói kém, dân Do-thái đã tới tận Ai-cập tìm kiếm lương thực, thực phẩm để nuôi sống các thành viên trong đại gia đình. Tương tự như vậy, nhưng với mức độ kỳ diệu và huyền nhiệm hơn, Đức Giê-su đến trần gian, Người đã mặc lấy thân phận nô lệ (Pl 2,7). Người đã bị Giu-đa bán với giá ba mươi đồng bạc (Mt 26,15). Nhờ Giu-se, con cháu nhà Gia-cóp được cứu khỏi cảnh chết đói, nhờ Đức Giê-su, toàn thể nhân loại được cứu khỏi cảnh chết đời đời. Như vậy, ‘Giu-se, Giê-su’ là hình ảnh và thực tại, hình ảnh Giu-se tiên báo thực tại Giê-su, Đấng thực hiện chương trình tình yêu của Thiên Chúa.

Trong tư cách là Tôi Tớ của con người, Đức Giê-su đã phục vụ con người, đem lại cho con người niềm vui, hạnh phúc và bình an. Nếu không có sự phục vụ của Đức Giê-su, con người không thể nào đạt được niềm vui, hạnh phúc và bình an đích thực. Đức Giê-su thể hiện mình là Người Tôi Tớ cho đến tận cùng, không chỉ tận cùng hành trình trần thế của Người, mà còn tận cùng hành trình trần thế của tất cả mọi người trong gia đình nhân loại cũng như muôn vật muôn loài. Người nói: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45). Hiệu quả của chương trình Thiên Chúa được Đức Giê-su thực hiện vẫn tiếp tục lan rộng trong môi trường nhân loại và toàn thể thế giới thụ tạo.

Như đã được trình bày ở trên, thánh Giáo Hoàng Grê-gô-ri-ô Cả là người đầu tiên dùng tước hiệu Tôi Tớ Của Các Tôi Tớ (Servus Servorum Dei) để nói về vai trò của ngài đối với Giáo Hội. Trong Kinh Thánh, Đức Giê-su không nói rằng Người là Tôi Tớ Của Các Tôi Tớ. Tuy nhiên, căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người diễn tả điều đó. Tước hiệu ‘Tôi Tớ Của Các Tôi Tớ’ mà thánh Giáo Hoàng Grê-gô-ri-ô Cả dùng có thể xem như là kết quả việc ngài suy niệm về Đức Giê-su. Bởi vì, hơn tất cả mọi người trong gia đình nhân loại từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế, Đức Giê-su là Người Tôi Tớ Của Các Tôi Tớ, bởi vì Người đã phục vụ những người nghèo nhất trong số các người nghèo, những người bất hạnh nhất trong số các người bất hạnh, những người tội lỗi nhất trong số con cháu A-đam và E-và.

Đức Giê-su có nhiều tước hiệu và đa số là những tước hiệu cao quý‎. Những tước hiệu này thường được dùng cho những bậc vị vọng trong xã hội loài người, chẳng hạn như ‘vua’, ‘hoàng tử’, ‘đấng giải phóng’. Thật là khập khiễng khi con người dùng các tước hiệu như thế để diễn tả Đức Giê-su, bởi vì Người là Vua, Hoàng Tử, Đấng Giải Phóng nhưng Người không giống bất cứ vị vua, hoàng tử, hay đấng giải phóng nào đó trong dòng lịch sử nhân loại. Chúng ta có thể nói rằng các tước hiệu để diễn tả Đức Giê-su cần phải là ‘các tước hiệu kép’. Chẳng hạn, Đức Giê-su là Vua nhưng là Vua Tôi Tớ (Servant King). Đức Giê-su là Hoàng Tử nhưng Hoàng Tử Tôi Tớ (Servant Prince). Đức Giê-su là Đấng Giải Phóng nhưng là Đấng Giải Phóng Tôi Tớ (Servant Liberator). Có như vậy, chúng ta mới có thể hiểu được đầy đủ hơn căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người trong chương trình Thiên Chúa, bởi vì trong mọi hoàn cảnh Đức Giê-su đều diễn tả mình là Người Tôi Tớ phục vụ mọi người, phục vụ cho đến tận cùng.

Noi gương Đức Giê-su, các môn đệ của Người qua muôn thế hệ không ngừng suy niệm, học hỏi và thực thi tác vụ tôi tớ của Đức Giê-su. Chẳng hạn, Mẹ Tê-rê-xa Can-cút-ta minh định rằng ‘hoa trái của tình yêu là phục vụ’. Mẹ đã thực hiện điều đó bằng cuộc đời hy sinh phục vụ theo mẫu gương Đức Giê-su. Mẹ ít khi loan báo Tin Mừng bằng lời nói nhưng bằng việc làm. Nhiều người theo Đạo Hin-du (Hinduism, Ấn Độ Giáo) làm chứng rằng Mẹ không bao giờ nói với họ hãy trở về với niềm tin Ki-tô Giáo. Tuy nhiên, những công việc Mẹ làm đã giúp họ hiểu biết hơn về Đức Giê-su và giáo huấn của Người. Chính hành động tôi tớ, hành động phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo của Mẹ đã nói lên tất cả. Như thế, ai phục vụ người khác theo gương Đức Giê-su như Mẹ Tê-rê-xa, người đó đã thực sự sống trong tình yêu của Đức Giê-su và sự phục vụ đó chính là ‘tình yêu được diễn tả qua hành động’. Theo Mẹ Tê-rê-xa, cách thức phục vụ của Mẹ có thể thực hiện trong bất cứ không gian, thời gian hay hoàn cảnh nào của xã hội loài người.

Trong những thập niên gần đây, môn học hay triết lý Lãnh Đạo Phục Vụ (Servant Leadership) đang được giảng dạy khá phổ biến ở nhiều trường học trên thế giới. Người ta tranh luận với nhau xem ai là người khởi xướng môn học này. Quả thật, hơn ai hết, Đức Giê-su đã mặc lấy và diễn tả thân phận tôi tớ, thân phận nô lệ cách đầy đủ nhất. Hơn nữa, Người đã dạy các môn đệ: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Mt 20,25-27). Trong Bữa Tiệc Ly, sau khi rửa chân cho các môn đệ, Đức Giê-su nói: “Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,13-15). Đức Giê-su đã để lại cho các môn đệ thân thương của mình cũng như tất cả mọi người trong gia đình nhân loại môn học hay triết lý Lãnh Đạo Phục Vụ cách thiết thực nhất.

Chúng ta biết rằng mô hình ‘lãnh đạo chuyên quyền’ là mô hình lãnh đạo khá phổ biến trong xã hội loài người từ trước tới nay. Mô hình này đem lại một số hiệu quả nhất định, chẳng hạn như duy trì tôn ti trật tự hay bảo đảm sự ổn định trong các hình thái xã hội. Tuy nhiên, mô hình này dễ bị lạm dụng và hậu quả là phẩm giá con người bị vi phạm, sự tự do và sáng tạo của con người bị kìm hãm. Với mô hình này, người hay nhóm người lãnh đạo khó nhận ra mình hay nhận ra những người khác để biến đổi bản thân và giúp người khác biến đổi nhằm tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện. Mô hình ‘lãnh đạo phục vụ’ đòi hỏi người hay nhóm người đứng đầu luôn quan tâm, chăm sóc, phục vụ mọi người. Nhờ đó, người hay nhóm người đứng đầu thấu hiểu, cảm thông và làm quen với những người dưới quyền mình, đồng thời, khuyến khích họ phát huy tiềm năng bản thân cũng như tinh thần sáng tạo nhằm đem lại lợi ích cho bản thân và cộng đồng.

Chúng ta đang sống trong ‘thế giới phẳng’, thế giới mà mọi người đều có cơ hội để học hỏi lẫn nhau, bổ sung cho nhau và cùng nhau chia sẻ những hoa trái chung của toàn thể gia đình nhân loại. Tuy nhiên, chúng ta thấy ‘nhiều sự không phẳng’ trong thế giới phẳng, chẳng hạn như sự không phẳng về phẩm giá con người, về điều kiện sinh hoạt, về đời sống kinh tế, về an sinh xã hội và về vô số lĩnh vực khác nữa. Câu hỏi đặt ra là tại sao lại có nhiều sự không phẳng trong thế giới phẳng? Thưa, tại vì các hình thức chủ nghĩa, chẳng hạn như chủ nghĩa ích kỷ, chủ nghĩa tiêu thụ, chủ nghĩa lãnh đạm, chủ nghĩa tương đối đang hoành hành trong gia đình nhân loại. Não trạng ‘ăn trên ngồi trốc’ vẫn luôn bám chặt vào tâm trí con người. Đặc biệt, con người không ý thức đủ rằng mình là tôi tớ của nhau để yêu thương và phục vụ lẫn nhau.

Con cháu A-đam và E-và không thích ‘thân phận tôi tớ’ nhưng thích ‘thân phận ông chủ’. Chẳng hạn, nhiều vị tướng lãnh hay vua chúa trong dòng lịch sử nhân loại từng nuôi hoài bão rằng mọi người, mọi dân tộc trên thế giới sẽ là nô lệ của mình, của dân tộc mình. Tuy nhiên, họ đã lìa trần và hoài bão không bao giờ trở thành hiện thực. Trong bối cảnh hiện tại cũng thế, một số vị lãnh đạo không ngừng cố gắng tìm cách để bản thân mình và quốc gia mình trở thành ‘chủ’ chứ không phải ‘tớ’ của các quốc gia khác. Não trạng cạnh tranh để phân định vai trò ‘chủ-tớ’ đã dẫn đến biết bao hệ lụy tàn khốc cho gia đình nhân loại. Chúng ta có thể nhận định rằng bao lâu các thành viên trong gia đình nhân loại không trở thành tôi tớ của nhau thì bấy lâu những bất công, bất hòa trong gia đình nhân loại vẫn còn tiếp diễn.

Câu chuyện ‘chủ – tớ’ không phải là câu chuyện xa xưa, câu chuyện đã đi vào dĩ vãng mà là câu chuyện của thế giới đương đại. Sự phân biệt sắc tộc, màu da, tôn giáo, chính kiến đang là thách đố lớn lao cho hầu hết các nước trên thế giới. Ai cũng nhận thức và biết rõ rằng con người bình đẳng về phẩm giá. Thế nhưng, thông thường ai cũng muốn mình có địa vị cao hơn, đáng tôn trọng hơn, đáng sống hơn người khác. Nhiều người mang trong mình những não trạng như thể ‘họ đáng hiện hữu hơn người khác’, ‘hồn họ lớn hơn hồn người khác’, ‘họ đáng sở hữu nhiều hơn người khác’. Chính những não trạng như thế dẫn tới nhiều hậu quả tai hại và đẩy hàng triệu người vào các hình thức nô lệ mới.

Chúng ta nhận thức rằng trong cuộc sống hằng ngày, tùy từng khoảng không gian và thời gian, mỗi người đều là tôi tớ của ai đó, của hiện tượng hay biến cố nào đó. Chúng ta có thể là tôi tớ của Thiên Chúa trong hoàn cảnh này, nhưng lại là tôi tớ của tội lỗi trong hoàn cảnh khác; tôi tớ phục vụ mọi người trong lúc này, nhưng lại là tôi tớ những tính hư nết xấu trong lúc khác. Mỗi người hãy tự đặt câu hỏi ‘mình đang là tôi tớ của ai?’ Tôi tớ của Thiên Chúa theo khuôn mẫu Đức Giê-su hay tôi tớ của ma quỉ, thế gian, xác thịt? Tôi tớ của sự thật, sự lành hay tôi tớ của bóng đêm sự dữ và các thế lực phản nghịch lại chương trình tình yêu Thiên Chúa? Chắc chắn rằng người môn đệ Đức Giê-su không thể ‘làm tôi hai chủ’ nên chúng ta cần thường xuyên suy ngẫm và trả lời cho những câu hỏi đó trong hành trình sống của mình.

Là môn đệ của Đức Giê-su, chúng ta luôn được mời gọi trở nên những chứng nhân của Đức Giê-su, Đường Tôi Tớ. Câu hỏi đặt ra là ‘bằng cách nào?’ Thưa, bằng cách suy niệm và thực thi giáo huấn của Đức Giê-su trong đời sống mình. Kinh nghiệm cho biết chúng ta không gặp khó khăn trong sự nhận thức rằng, vì yêu thương, Đức Giê-su đã đi Đường Tôi Tớ để cứu độ chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta lại gặp muôn vàn khó khăn trong hành trình theo Đường Tôi Tớ của Người để đến với Thiên Chúa và đến với mọi người. Bởi vì, theo Đường Tôi Tớ đồng nghĩa với việc chúng ta ‘trút bỏ chính mình’ và ‘mang lấy thân phận tôi tớ’ để phục vụ Thiên Chúa qua việc phục vụ mọi người, nhất là những người yếu đuối mọn hèn mà chúng ta gặp gỡ hằng ngày.

Ai không trở thành tôi tớ của Thiên Chúa theo khuôn mẫu Đức Giê-su thì cũng không được chia sẻ tình yêu, bình an và hạnh phúc vĩnh cửu Nước Trời. Thời cánh chung, Thiên Chúa phán xét mỗi người không dựa trên kiến thức, sự nổi tiếng hay những việc lớn lao mà mỗi người hoàn thành trong hành trình dương thế, nhưng dựa trên tình yêu thương và sự quan tâm phục vụ của mỗi người đối với anh chị em đồng loại. Đức Giê-su liệt kê những công việc cụ thể mà ai cũng có thể làm được, chẳng hạn như ‘cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng thăm người tù tội’. Trong hình thức xã hội nào, chúng ta cũng có thể gặp gỡ những người như thế. Chúng ta giúp họ chỉ vì họ cần giúp đỡ, chứ không phải giúp họ để được thưởng công mai ngày. Tuy nhiên, Đức Giê-su cho chúng ta biết rằng khi chúng ta giúp đỡ những người như vậy là giúp đỡ chính Người (Mt 25,31-46). Thông thường, chúng ta hay để ý đến những người quan trọng, nổi tiếng và đóng góp nhiều cho những người đó hơn là chia sẻ cho những người yếu thế, đơn côi, nghèo khổ. Như vậy, theo Đường Tôi Tớ của Đức Giê-su, chúng ta hãy quan tâm phục vụ ‘những người rốt hết’, ‘những người không tên’ trong môi trường sống của chúng ta.

Từ những xem xét, đánh giá và khai triển trên đây cho phép chúng ta kết luận rằng Đức Giê-su đã đi Đường Tôi Tớ để đến với thế giới thụ tạo, đến với tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Là Thiên Chúa, nhưng Đức Giê-su đã hạ mình trở thành Người Tôi Tớ Đau Khổ để phục vụ con người. Những ai nhận Đức Giê-su là Thầy, là Bạn của mình luôn được mời gọi đi Đường Tôi Tớ để phục vụ Thiên Chúa qua việc phục vụ anh chị em mình. Hơn nữa, trong mọi hoàn cảnh, Đường Tôi Tớ cần phải được loan báo và làm chứng bởi các môn đệ trung tín của Đức Giê-su. Chúng ta xác quyết rằng ‘nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống’ mà nhân loại đang đồng tâm hiệp lực xây dựng chỉ có thể trở thành hiện thực khi tất cả mọi người luôn ý thức mình là tôi tớ của Thiên Chúa và tôi tớ của nhau theo khuôn mẫu Đức Giê-su trong hành trình dương thế này.

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên
Ủy ban Giới Trẻ và Thiếu Nhi / HĐGM VN

Các chủ đề học hỏi và suy niệm năm 2020:

Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 10 năm 2020

Các bạn trẻ thân mến,

Tháng Chín vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Thinh Lặng. Tháng Mười này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Khiêm Hạ. Theo nội dung đức tin Ki-tô giáo, với quyền năng của Người, Đức Giê-su có thể đến với gia đình nhân loại theo nhiều cách thức khác nhau. Tuy nhiên, Người đã đến bằng Đường Khiêm Hạ để phục hồi phẩm giá con người và cho con người được tham dự vào sự sống viên mãn của Thiên Chúa.

Từ ‘khiêm hạ’ trong tiếng Việt tương đương với ‘humility’ trong tiếng Anh, phát xuất từ tiếng La Tinh ‘humilis’ (thấp, gần mặt đất; humus: đất). Khiêm hạ là đặc tính căn bản diễn tả thân phận con người trước mặt Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh, khiêm hạ ngược lại với khoe khoang, kiêu ngạo. Người khiêm hạ không tự cao tự đại, nhưng cậy dựa vào Thiên Chúa (Cn 3,7; Tv 131,1; Rm 12,3.16). Khiêm hạ là thái độ của con người, thụ tạo tội lỗi trước Đấng toàn năng, chí thánh, và nhìn nhận rằng mọi sự mình có đều do Người ban tặng (1 Cr 4,7). Người khiêm hạ biết mình là tội nhân, là đầy tớ vô dụng (Lc 5,8; Lc 17,10; Gl 6,3). Họ mở lòng đón nhận ơn Thiên Chúa, vì Thiên Chúa hằng đoái thương họ (Gc 4,6; 1 Sm 2,7; Cn 15,33). Nói chung, khiêm hạ diễn tả thái độ con người ‘biết mình’, ‘biết tha nhân’, ‘biết Thiên Chúa’ và ‘biết luôn qui hướng về Người’.

Trong Cựu Ước, đặc tính khiêm hạ gắn liền với những người mọn hèn trong xã hội. Họ là ‘những người nghèo của Gia-vê (Đức Chúa)’ và phó thác hoàn toàn cuộc sống mình cho Người. Họ luôn là ‘những đối tượng đặc biệt’ của tình yêu Thiên Chúa, Đấng luôn lắng nghe và ra tay giải thoát họ khỏi cảnh áp bức, bất công như Lời Thiên Chúa phán trong sách ngôn sứ I-sai-a: “Kẻ được Ta đoái nhìn: Đó là người nghèo khổ, người có tâm hồn tan nát, người nghe lời Ta mà run sợ” (Is 66,2). Hơn nữa, Thiên Chúa còn đưa ra những huấn lệnh cho dân Do-thái là phải tôn trọng, quan tâm và chăm sóc họ. Lịch sử Cựu Ước cũng là lịch sử của việc Thiên Chúa đề cao người khiêm hạ, chống lại phường kiêu căng. Đặc biệt, những người khiêm hạ được Thiên Chúa mời gọi cộng tác vào chương trình cứu độ của Người.

Áp-ra-ham, Mô-sê và Đa-vít là những người khiêm hạ điển hình trong Cựu Ước, chẳng hạn, Áp-ra-ham nói với Thiên Chúa: “Con chỉ là thân tro bụi” (St 18,27); Mô-sê được mô tả là “người hiền lành nhất đời” (Ds 12,3); Đa-vít thân thưa cùng Thiên Chúa: “Lòng con chẳng dám tự cao, mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi! Đường cao vọng, chẳng đời nào bước, việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu; hồn con, con vẫn trước sau giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con, hồn lặng lẽ an vui” (Tv 131,1-2). Các ngôn sứ của Thiên Chúa là những người khiêm hạ, chẳng hạn, ngôn sứ I-sai-a thốt lên: “Tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh!” (Is 6,5), còn Giê-rê-mi-a thì thành khẩn: “Ôi! Lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói!” (Gr 1,6). Tiếp tục với truyền thống Cựu Ước, trong thời Tân Ước, Đức Ma-ri-a, thánh Giu-se, thánh Gio-an Tẩy Giả là những người khiêm hạ. Thiên Chúa mời gọi các ngài cách đặc biệt để tham dự vào chương trình cứu độ của Người được thực hiện nhờ Đức Giê-su, Đường Khiêm Hạ.

Kinh Thánh Tân Ước cho chúng ta biết rằng Đức Giê-su được sinh ra và lớn lên trong ‘môi trường khiêm hạ’. Trước khi bắt đầu cuộc đời công khai rao giảng Tin Mừng, Người đã diễn tả sự khiêm hạ của mình bằng cách xuống sông Gio-đan để chịu Phép Rửa bởi Gio-an Tẩy Giả. Sau đó, Người vào hoang địa ăn chay cầu nguyện bốn mươi đêm ngày và chịu ba cơn cám dỗ: Cám dỗ về sự thỏa mãn (biến đá thành bánh để ăn), cám dỗ thể hiện quyền năng (nhảy từ trên cao xuống đất) và cám dỗ về vật chất (các vương quốc và sự giàu sang trần thế). Đức Giê-su đã từ chối thực thi những điều ngoại thường do ma quỷ đặt ra. Người đã không thể hiện quyền năng của mình theo mưu mô thâm độc của ma quỷ, nhưng thể hiện sự khiêm hạ, tùng phục Thiên Chúa để chiến thắng ma quỷ (Mt 4,1-11).

Trong hành trình rao giảng, Đức Giê-su từng loan báo rằng Tin Mừng của Người dành cho tất cả mọi người, đặc biệt là những người khiêm hạ. Để minh chứng điều đó, Người đã diễn tả sự khiêm hạ của mình bằng cách cúi xuống với tất cả mọi người: Người cúi xuống với những người bị quỷ ám, cúi xuống với những người bệnh tật, cúi xuống với những người bị bỏ rơi, cúi xuống với những người bị loại trừ trong đời sống tôn giáo hay xã hội. Tâm tình, lời nói và hành động của Đức Giê-su đều mang âm hưởng của sự khiêm hạ. Là Thiên Chúa, Đức Giê-su không bao giờ diễn tả mình như một vị vua, một tướng quân, một anh hùng hào kiệt, một nhà lãnh đạo tài ba. Căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người không giống với bất cứ vĩ nhân nào trong dòng lịch sử nhân loại.

Những lời nói và việc làm của Đức Giê-su trong hành trình trần thế cho chúng ta nhận thức rằng Đức Giê-su vừa là Con Thiên Chúa vừa là con loài người. Tuy nhiên, Đức Giê-su thường diễn tả mình như là con loài người hơn là Con Thiên Chúa, bởi vì, trong mọi hoàn cảnh, Người thể hiện mình là người khiêm hạ, luôn đứng về phía những nạn nhân của muôn hình thức bất công, đau khổ. Những gì Đức Giê-su thực hiện giúp họ hướng tới sự giải thoát và vinh thắng chung cuộc của Thiên Chúa trên tội lỗi, đau khổ và sự chết. Đức Giê-su không diễn tả chính mình như ‘Thiên Chúa là’ (vinh quang, danh dự, uy quyền), nhưng diễn tả chính mình như ‘con người là’ (đau khổ, cùng cực bởi sức nặng của tội lỗi và hậu quả khôn lường của tội lỗi là sự chết).

Đức Giê-su khiêm hạ khi tiếp cận người tốt hay kẻ xấu, Do-thái hay dân ngoại, nô lệ hay tự do. Người khiêm hạ khi cho phép người tội lỗi, người thánh thiện, người giàu, người nghèo, người nữ, người nam trở thành những người loan báo và phục vụ Tin Mừng (Mt 8,5-13; Lc 8,1-3; Ga 4,1-42). Người khiêm hạ khi nhìn nhận con người với cả những điểm tích cực và tiêu cực. Dụ ngôn cỏ lùng cho chúng ta biết điều đó (Mt 13,24-30.36-43). Người khiêm hạ khi để cho Giu-đa Ít-ca-ri-ốt tự do bán Người cho quân dữ. Người khiêm hạ khi để cho các môn đệ tự do lìa bỏ Người. Người khiêm hạ khi để cho tên trộm cướp sát nhân nhục mạ Người trên thập giá (Lc 23,39).

Đức Giê-su đề cao những người sống đời khiêm hạ. Chẳng hạn, quan sát những người bỏ tiền dâng cúng cho Đền Thờ, có lắm người bỏ nhiều tiền và cũng có một bà góa chỉ bỏ vào hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma, Người nói với các môn đệ: “Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết” (Mc 12,43). Đức Giê-su biết rằng bà không bỏ bằng đồng tiền dư thừa nhưng bằng ‘chính sự sống của mình’. Số tiền này quá ít ỏi nhưng đây là gia sản bà có được. Bà đã bỏ tiền vào Đền Thờ với tất cả tâm tư, tình cảm và lòng đạo đức của mình. Với Đức Giê-su, điều chính yếu không phải là số tiền bà dâng cúng mà là trái tim của bà đối với việc đóng góp cho Đền Thờ. Với Đức Giê-su, chất lượng thì hơn số lượng, ‘nồng độ khiêm hạ’ hay ‘nồng độ tình yêu’ trong công việc thì quan trọng hơn ‘trương độ’ hay ‘số lượng’ công việc. Với Đức Giê-su, con người có trái tim nhân hậu, trái tim biết rung cảm trước những đau thương hay thiếu thốn của người khác thì quan trọng hơn những gì mang tính hình thức bên ngoài.

Một trong những điều Đức Giê-su thường khuyên dạy các môn đệ là tránh thói giả hình. Dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế lên Đền Thờ cầu nguyện diễn tả điều đó. Trong Đền Thờ, người Pha-ri-sêu đứng thẳng (dấu chỉ của kiêu ngạo) kể lể những gì ông ta làm được, còn người thu thuế thì “đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13). Đức Giê-su kết luận: “Tôi nói cho các ông biết: Người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,14). Đức Giê-su cho mọi người biết rằng người đạo đức đích thực là người khiêm hạ, chứ không phải là người khoe khoang những thành tích mình đạt được.

Thánh Mát-thêu trình thuật rằng khi các môn đệ hỏi Đức Giê-su “ai là người lớn nhất trong Nước Trời?“, Người đã gọi một em nhỏ lại và bảo “nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,1-2)). Ngay trong sự kiện này, chúng ta thấy được sự khiêm hạ của Đức Giê-su. Người không chỉ vào mình và nói rằng ‘Thầy khiêm hạ từ nhỏ đến lớn, anh em hãy học từ Thầy’, nhưng Người chỉ vào em nhỏ. Chúng ta biết rằng trẻ nhỏ luôn có tâm hồn nhạy cảm. Trẻ nhỏ biết ngạc nhiên trước một bông hoa đẹp, trước một hòn đá nhỏ, trước một món quà đơn sơ. Trẻ nhỏ biết ngạc nhiên trước cảnh hùng vĩ của hừng đông hay chiều tà. Trẻ nhỏ dễ lắng nghe, dễ tiếp nhận, dễ vâng phục. Trẻ nhỏ biết ‘phó thác bản thân’ cho người khác chăm sóc hướng dẫn. Trẻ nhỏ thích tìm tòi, khám phá. Trẻ nhỏ luôn sẵn sàng mở lòng trí cho những kiến thức hay thực tại mới mẻ. Trẻ nhỏ có thể không giải thích các sự kiện hay biến cố xảy đến, nhưng lại đón nhận các sự kiện hay biến cố với tinh thần ngạc nhiên, quảng đại, bao dung. Trẻ nhỏ có thể không hiểu từ ‘khiêm hạ’ là gì, nhưng khiêm hạ lại là ‘bản tính tự nhiên’ của chúng. Do đó, để đến với Đức Giê-su, để lĩnh hội và thực thi giáo huấn của Người, tất cả mọi người phải có ‘tâm hồn trẻ nhỏ’.

Đức Giê-su thể hiện sự khiêm hạ của mình cách đặc biệt trong Biến Cố Vượt Qua. Người vào Giê-ru-sa-lem với tư cách là Con Vua Đa-vít, là Đấng Mê-si-a. Tuy nhiên, Người không thể hiện mình là Con Vua Đa-vít hay Đấng Mê-si-a theo nhãn quan trần tục, nhãn quan đậm màu chính trị, xã hội của dân Do-thái (Mt 21,1-11). Đức Giê-su đã không ‘đánh Đông dẹp Bắc’ để đem lại sự hưng thịnh và vinh quang trần thế cho dân Do-thái, nhưng Người đã tẩy trừ tội lỗi và sự chết để đem lại ơn cứu độ cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại bằng Đường Khiêm Hạ. Đức Giê-su là vua, nhưng Người không cưỡi trên lưng ngựa như các vị vua đương thời. Người cũng không cưỡi trên lưng con lừa trưởng thành, mà lại cưỡi trên lưng lừa con. Sự kiện này ứng nghiệm lời ngôn sứ trong Cựu Ước: “Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dcr 9,9; Mt 21,5).

Sự khiêm hạ của Đức Giê-su được diễn tả qua việc Người hạ mình xuống với con người, sống thân phận con người, chết vì con người. Chính Đức Giê-su đã ‘tự làm cho mình’ trở nên phàm nhân và nạn nhân của các hình thức đau khổ trong gia đình nhân loại. Người đã làm cho mình trở nên ‘trống rỗng’ (κένωσις, kénōsis), vì Người đã trút bỏ tất cả những gì thuộc về Người và nhận vào mình tất cả tội lỗi và sự chết của mọi người trong gia đình nhân loại từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế mà đưa lên cây thập giá (1 Pr 2,18-24). Chúng ta biết rằng quyền năng, danh dự và vinh quang của Đức Giê-su là quyền năng, danh dự và vinh quang của Thiên Chúa. Do đó, khi Đức Giê-su trút bỏ tất cả cũng là khi Người mang lấy tất cả những hậu quả do tội lỗi gây nên và trả lại cho con người phẩm giá là được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được trở thành con cái Thiên Chúa nhờ danh Người.

Hình ảnh Đức Giê-su gục đầu xuống trên thập giá đáng chúng ta quan tâm nhất (Ga 19,30). Hình ảnh này gợi lên trong chúng ta hình ảnh đối lập nơi A-đam kiêu ngạo, sa chước cám dỗ, ngước đầu lên trong buổi đầu sáng tạo. Hình ảnh Đức Giê-su gục đầu xuống nhắc nhở chúng ta về sức nặng của tội lỗi nhân loại mà Người phải gánh chịu. Hình ảnh này cũng nhắc nhở chúng ta về việc cần thiết phải gục đầu sám hối ăn năn vì những tội lỗi và bất xứng của bản thân trong hành trình dương thế. Hơn nữa, hình ảnh này cũng nhắc nhở chúng ta sự cần thiết phải vâng phục thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh. Tắt một lời, hình ảnh Đức Giê-su gục đầu xuống nhắc nhở chúng ta phải sống khiêm hạ theo khuôn mẫu Người.

Dưới nhãn quan của một số người, Biến Cố Đức Giê-su trong hành trình trần thế là Biến Cố thất bại. Thiên Chúa không thể đến với nhân loại và hành xử theo cách đó. Sự khiêm hạ của Đức Giê-su là quá mức và không cần thiết. Tuy nhiên, trong chương trình của Thiên Chúa, sự khiêm hạ của Đức Giê-su đem lại ơn cứu độ và giải phóng tận căn cho tất cả mọi người. Sự khiêm hạ của Người không hợp lý theo ý con người, đó là lý do giải thích tại sao “người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1,23). Tuy nhiên, sự khiêm hạ của Người lại hợp lý theo ý Thiên Chúa, bởi vì đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa không phải là đường lối và tư tưởng của con người. Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a minh chứng điều đó: “Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55,9).

Nhờ Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su, tình yêu và lòng nhân từ của Thiên Chúa được diễn tả trong gia đình nhân loại. Nhờ Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su, sự sống đã chiến thắng sự chết. Nhờ Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su, trật tự các giá trị theo nhãn quan của con người bị đảo lộn. Theo ngôn ngữ của thánh Phao-lô, nhờ Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su, “những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có” (1 Cr 1,27-28). Nhờ Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su, sự kiêu ngạo của Nguyên Tổ và những dẫn xuất của sự kiêu ngạo này bị tiêu diệt.

Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng A-đam là con người nhưng lại muốn trở thành ‘vị thần biết điều thiện điều ác’ (St 3,5), Đức Giê-su là Thiên Chúa nhưng đã trở thành con người, giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi. A-đam đi lên, còn Đức Giê-su đi xuống. A-đam khẳng định chính mình, còn Đức Giê-su trút bỏ chính mình. A-đam đi đường thênh thang, còn Đức Giê-su đi đường nhỏ hẹp. A-đam đi đường bất tuân Thiên Chúa, còn Đức Giê-su đi đường tuân phục Thiên Chúa. A-đam đi đường giàu sang, còn Đức Giê-su đi đường nghèo khó. Vì đường A-đam, sự chết đến trần gian, nhờ Đường Đức Giê-su, Sự Sống đến với trần gian để khôi phục sự sống cho tất cả mọi người. Thánh Phao-lô viết: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20). Suy niệm về sự khiêm hạ theo mặc khải Ki-tô giáo, thánh Au-gút-ti-nô viết: “Kiêu ngạo làm cho các thiên thần trở thành ác quỷ, khiêm hạ làm cho con người trở thành những thiên thần.”

Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta nhận thức rằng bóng tối không thể đẩy lui bóng tối, chỉ có ánh sáng mới đẩy lui được bóng tối mà thôi. Đức Giê-su đã minh chứng điều đó trong hành trình rao giảng Tin Mừng. Chẳng hạn, khi Người trừ quỷ thì một số người bảo: “Ông ấy dựa thế quỷ vương Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ” (Lc 11,15). Đức Giê-su nói: “Nếu Xa-tan cũng tự chia rẽ chống lại chính mình, thì nước nó tồn tại sao được?” (Lc 11,18). Người nói tiếp: “Nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Lc 11,20). Do đó, cây trái cấm trong Vườn Địa Đàng chỉ có thể thay thế bằng cây thập giá Đức Giê-su. ‘Vi-rút kiêu ngạo’ của A-đam chỉ có thể bị đánh bại bằng ‘Vắc-xin Khiêm Hạ’ của Đức Giê-su. Bệnh kiêu ngạo của A-đam chỉ có thể cứu chữa bằng Thuốc Khiêm Hạ của Đức Giê-su. Trái tim kiêu ngạo của A-đam chỉ có thể biến đổi bằng Trái Tim Khiêm Hạ của Đức Giê-su. Sự chết của A-đam chỉ có thể chữa trị bằng sự sống của Đức Giê-su. Đường kiêu ngạo của A-đam chỉ có thể triệt tiêu bằng Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su.

Suy niệm về tình yêu Thiên Chúa, chúng ta nhận thức rằng tình yêu của Người đạt đỉnh điểm không phải qua những kỳ công vĩ đại Người thực hiện trên trần gian, nhưng qua sự khiêm hạ của Con Yêu Dấu Người là Đức Giê-su. Chính sự khiêm hạ của Đức Giê-su làm cho tình yêu của Thiên Chúa khác biệt so với tất cả các dạng thức tình yêu mà con người có thể cảm nhận trong lịch sử nhân loại. Sự khiêm hạ của Đức Giê-su cũng chính là tình yêu của Người đối với tất cả mọi người. Nói cách khác, tình yêu của Đức Giê-su là tình yêu trong khiêm hạ hay khiêm hạ của Đức Giê-su là khiêm hạ trong tình yêu. Hơn ai hết, thánh Phao-lô là người am hiểu và diễn tả rất mạch lạc về điều này (Rm 8,31-39).

Đối với thánh Phao-lô, tình yêu hay đức mến và sự khiêm hạ định nghĩa lẫn nhau và giải thích cho nhau. Người sống đời khiêm hạ cũng là người sống đời yêu thương và ngược lại: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,4-7). Như thế, những gì thánh nhân diễn tả về đức mến chính là những gì phát xuất từ sự khiêm hạ. Thánh Gio-an tông đồ khẳng định: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8.16). Theo nhãn quan của thánh Phao-lô, chúng ta cũng có thể khẳng định: Thiên Chúa là khiêm hạ. Người diễn tả sự khiêm hạ tột cùng trong Biến Cố Đức Giê-su giữa lòng nhân thế.

Sự khiêm hạ của Đức Giê-su có tính lan tỏa, thẩm thấu và biến đổi tâm hồn những ai tiếp cận Người. Chẳng hạn, ngay trong buổi đầu, khi diện kiến Đức Giê-su cũng như sứ mệnh của Người và trước mẻ cá lạ, thánh Phê-rô đã thốt lên: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5,8). Khi Phê-rô khiêm hạ nhận ra thân phận của mình, Đức Giê-su đã chọn ngài trở thành môn đệ Người (Lc 5,10-11). Thấm nhuần giáo lý Thầy mình, trong hành trình loan báo Tin Mừng, thánh Phê-rô viết: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1 Pr 5,5). Tương tự như vậy, khi gặp gỡ Đức Giê-su Phục Sinh trên đường Đa-mát và được Người biến đổi, thánh Phao-lô khiêm hạ nhìn nhận: “Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Ki-tô Giê-su đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi” (1 Tm 1,15). Kinh nghiệm về Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su, ngài không chỉ trung tín với Đường Khiêm Hạ mà còn hướng dẫn người khác sống Đường Khiêm Hạ. Ngài viết: “Đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức” (Rm 12,3) hay “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau” (Ep 4,2).

Mặc khải Ki-tô giáo cho chúng ta nhận thức rằng kiêu ngạo là ‘tội đầu của các tội’ và khiêm hạ là ‘nhân đức đầu của các nhân đức’. Hơn nữa, người sống và thực thi nhân đức khiêm hạ cũng là người sống và thực thi các nhân đức khác trong nội dung đức tin Ki-tô giáo. Tuy nhiên, nhân đức khiêm hạ không phải là nhân đức mà con người có thể đạt được, sống và diễn tả luôn mãi. Tội Nguyên Tổ và hậu quả của Tội Nguyên Tổ vẫn còn ‘lay động trái tim mọi người’. Nếu không có sự kết hợp liên lỉ với Đức Giê-su, người khiêm hạ có thể trở thành người kiêu ngạo trong giây lát. Nói cách khác, biên giới giữa khiêm hạ và kiêu ngạo thật mong manh và dễ đổ vỡ. Nhân đức khiêm hạ là lộ trình dang dở cho tất cả mọi người trong hành trình trần thế. Do đó, nhân đức này cần được quan tâm, gìn giữ và vun đắp mỗi ngày.

Sự kiêu ngạo và sự khiêm hạ tỷ lệ nghịch với nhau: Sự kiêu ngạo càng lớn thì sự khiêm hạ càng nhỏ và ngược lại. Để sự khiêm hạ ngày càng được lớn lên, con người không có chọn lựa nào khác là đi Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su, Đường Duy Nhất cho tất cả mọi người. Đây là Đường đòi hỏi tất cả mọi người phải biết cúi đầu, biết trút bỏ, biết nhận ra thân phận yếu đuối của mình trước mặt Thiên Chúa, đồng thời, biết nhìn nhận người khác như là anh chị em của mình, đồng thời, quan tâm đến muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo. Người đi Đường Khiêm Hạ biết luôn trở về với chính mình để nhận ra những thiếu sót, bất xứng của bản thân và biết qui hướng về giáo huấn của Đức Giê-su nhằm biến đổi tâm hồn mình luôn mãi.

Bài Giảng Trên Núi của Đức Giê-su mà chúng ta thường quen gọi là Tám Mối Phúc hay Hiến Chương Nước Trời là bài giảng về sự khiêm hạ. Chẳng hạn, “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3); “Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp” (Mt 5,4); “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8); “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,10). Hơn ai hết, chính Đức Giê-su đã sống và thực thi Tám Mối Phúc này. Do đó, ai theo Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su, người đó cần phải noi gương, bắt chước Người.

Ai trong chúng ta cũng muốn làm điều tốt nhưng trong thực tế nhiều khi chúng ta lại làm điều xấu. Thánh Phao-lô đã có kinh nghiệm như thế và đã chia sẻ cho mọi người (Rm 7,19). Chúng ta lắng nghe, hiểu biết, thậm chí giảng dạy cho người khác về Tám Mối Phúc, tuy nhiên, điều đó chưa đủ, thực hành Tám Mối Phúc mới là quan trọng. Để thực hành Tám Mối Phúc, mỗi người chúng ta phải thực sự thấm nhuần Tám Mối Phúc, yêu mến Tám Mối Phúc và ‘cho phép’ Tám Mối Phúc trở thành trung tâm của đời sống mình. Hơn nữa, để thực hành Tám Mối Phúc, nhiều lúc chúng ta phải bơi ngược dòng, phải biết ‘nói không’ với những gì phản lại giáo huấn Đức Giê-su trong đời sống cũng như trong các tương quan của bản thân mình giữa những gian trá và vàng thau lẫn lộn của thế sự.

Suy niệm về Tám Mối Phúc, chúng ta nhận ra rằng người khiêm hạ là người nhận ra sự bất toàn, bất xứng, bất hòa hợp của bản thân và sự lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa. Người khiêm hạ biết thinh lặng, biết lắng nghe và biết quan tâm đến người khác. Người khiêm hạ luôn biết vâng phục Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt, trong những lúc phải đương đầu với muôn hình thức đau khổ về thể xác và tâm hồn. Người khiêm hạ biết kiên tâm chịu đựng trước những nghịch cảnh của cuộc sống hằng ngày, chẳng hạn như kiên nhẫn trước sự vu oan hay hiểu lầm từ người khác; kiên nhẫn khi sự tốt, sự lành, sự thiện chưa được biểu lộ; kiên nhẫn theo lời giảng dạy của Đức Giê-su khi để lúa và cỏ lùng cùng tồn tại cho đến mùa gặt (Mt 13,30). Đặc biệt, người khiêm hạ biết kiên nhẫn làm chứng cho Đức Giê-su theo gương các thánh tử đạo trong dòng lịch sử Giáo Hội.

Trên thế giới, con cháu A-đam có thể phân biệt về sắc tộc, màu da, tôn giáo, văn hóa cũng như nhiều đặc điểm khác, tuy nhiên, não trạng ‘tôn mình lên và hạ người khác xuống’ là não trạng chung của nhiều người. Não trạng này đã gây biết bao tang tóc đối với gia đình nhân loại. Ghen tương, giận hờn, thù ghét, chiến tranh, nghèo đói và tất cả các hình thức đau khổ do con người gây nên, xét cho cùng, đều xuất phát từ não trạng ‘tôn mình lên và hạ người khác xuống’. Châm ngôn của Đức Giê-su rất ngắn gọn: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14,11). Châm ngôn này dễ học, dễ nhớ, dễ dạy bảo nhưng không dễ thực hiện, bởi vì Tội Nguyên Tổ và ‘dư chấn của Tội này’ vẫn rền vang trong môi trường thế giới thụ tạo, đặc biệt, trong tâm hồn của tất cả mọi người.

Đức Giê-su khiêm hạ ngay cả khi Người không bắt buộc chúng ta phải theo Đường Khiêm Hạ mà Người đã thực thi trong hành trình trần thế. Người mời gọi chúng ta và kiên nhẫn chờ đợi sự tự do đáp trả của chúng ta đối với Đường Khiêm Hạ cũng là Đường Cứu Độ của Người. Trong bài giảng 169, thánh Au-gút-ti-nô viết: “Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta mà không cần chúng ta [cộng tác]; nhưng Người sẽ không cứu độ chúng ta mà không cần chúng ta [cộng tác]”. Quả thực, Thiên Chúa đã thực thi chương trình cứu độ của Người bằng Đường Khiêm Hạ của Con Yêu Dấu Người là Đức Giê-su. Do đó, ai tự do theo Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su và thực hành Đường Khiêm Hạ ấy trong đời sống mình thì sẽ được chung hưởng hoa trái tốt lành mà Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su mang lại, đó là sự sống đời đời trong Nước Thiên Chúa.

Những quan sát, đánh giá và khai triển trên đây cho phép chúng ta có được nhận định khái quát rằng Đức Giê-su đã đi Đường Khiêm Hạ đến với gia đình nhân loại, hầu trả lại phẩm giá và đem ơn cứu độ cho con người. Như thế, Đường Khiêm Hạ không chỉ là Đường các Ki-tô hữu, mà còn là Đường của tất cả mọi người. Đức Giê-su cho chúng ta bài học thâm thúy rằng ai không biết cúi xuống thì cũng không được nâng lên. Ai không đi Đường Khiêm Hạ của Người thì cũng không thể chung phần vinh phúc với Người. Chúng ta được mời gọi suy niệm, học hỏi và thực thi Đường Khiêm Hạ của Đức Giê-su trong hành trình trần thế này. Đường Khiêm Hạ của Người chính là Đường Cứu Độ của Thiên Chúa, Đường cho phép con người không ngừng được biến đổi, tái tạo và ngày càng kết hợp mật thiết hơn với Thiên Chúa, Đấng là Nguyên Thủy và Cùng Đích của con người và muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo này.

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên
Ủy ban Giới Trẻ và Thiếu Nhi / HĐGM VN

Các chủ đề học hỏi và suy niệm năm 2020:

Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 9 năm 2020

Các bạn trẻ thân mến,

Tháng Tám vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Thánh Thiện. Tháng Chín này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Thinh Lặng. Hành trình dương thế của Đức Giê-su cho chúng ta nhận thức rằng Người vừa là Thiên Chúa, Đấng Thinh Lặng, vừa là Lời Thiên Chúa và là Đường Thinh Lặng của Thiên Chúa giữa dòng đời. Sự thinh lặng mà chúng ta đề cập trong bài viết này chủ yếu không phải là sự thinh lặng môi miệng, mà là sự thinh lặng tâm hồn, đặc biệt, tâm hồn hiệp thông với Thiên Chúa.

Trong Kinh Thánh Cựu Ước, tác giả Thánh Vịnh thốt lên: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm” (Tv 19,2). Quả thật, thế giới thụ tạo và mặc khải Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng thinh lặng là một cách nói của Thiên Chúa hay ngôn ngữ của Người là ngôn ngữ thinh lặng. Từ buổi ban đầu Thiên Chúa sáng tạo cho đến hôm nay và tới thời cánh chung, Thiên Chúa nói bằng lời quá ít so với Thiên Chúa nói bằng sự thinh lặng. Như thế, sự thinh lặng của Thiên Chúa cũng có giá trị như Thiên Chúa nói bằng lời vậy. Do đó, con người không chỉ quan tâm đến cách truyền thông của Thiên Chúa qua những gì Thiên Chúa nói và làm trong dòng lịch sử, mà còn qua sự thinh lặng của Người nữa.

Nhiều lúc, con người cảm thấy Thiên Chúa thinh lặng như thể ‘ngoảnh mặt làm ngơ’ trước những thảm họa thiên nhiên, đặc biệt, trước đau khổ, bất công, bạo lực, chết chóc của con người. Thực ra, Thiên Chúa không thinh lặng như con người lầm tưởng. Người luôn tỉnh thức, bởi vì, Người ‘không bao giờ ngủ’, “Đấng gìn giữ Ít-ra-en, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành” (Tv 121,4). Người thinh lặng không có nghĩa Người không hiện diện, không hoạt động. Người luôn hiện diện, luôn hoạt động theo ‘thì’ của Người chứ không theo ‘thì’ của chúng ta. Con người thường mong muốn đường lối của Thiên Chúa giống đường lối của mình. Tuy nhiên, để hòa nhịp được với chương trình Thiên Chúa, đúng hơn, con người cần uốn nắn đường lối của mình theo đường lối của Thiên Chúa.

Hình ảnh Dân Do-thái rong ruổi bốn mươi năm trong sa mạc là bài học lớn cho chúng ta về sự thinh lặng, hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa. Đối với sự hiểu biết của con người, sa mạc là nơi không ai muốn đến, bởi vì, sa mạc thiếu nguồn nước, bóng cây, sức sống. Thế nhưng, từ sa mạc, Thiên Chúa đã biểu dương quyền năng và tình yêu đối với Dân Người. Sa mạc là nơi cằn cỗi, chết chóc, lại là nơi Thiên Chúa hiện diện và hoạt động cách mãnh liệt nhất. Điều đó cho chúng ta nhận thức rằng nơi con người bị yếu thế nhất, bất lực nhất, khổ đau nhất lại là nơi Thiên Chúa biểu dương tình yêu và quyền năng của Người. Nơi con người cho rằng ‘vắng bóng Thiên Chúa’ lại là nơi Thiên Chúa hiện diện để cứu giúp họ.

Nhờ tin tưởng vào Thiên Chúa và trung thành với sứ mệnh Người giao phó, trong cơn hoạn nạn, ngôn sứ Ê-li-a phải chạy trốn vua A-kháp và những người của vua. Ê-li-a đi bốn mươi đêm ngày lên núi Khô-rếp, núi của Thiên Chúa và nghỉ lại trong một cái hang. Nhiều biến cố ồn ào xảy ra trên núi, chẳng hạn như gió to, bão lớn, động đất, lửa cháy, nhưng Thiên Chúa không xuất hiện trong các biến cố đó. Tuy nhiên, khi có ‘tiếng gió hiu hiu’ hay ‘tiếng thì thào êm nhẹ’, Ê-li-a đã được ‘diện kiến’ Thiên Chúa và được trao sứ mệnh tiếp tục chương trình của Người. Điều này ngược với nhãn quan chung của các dân tộc Trung Đông thời đó cho rằng thần thánh hiện diện trong những biến cố ồn ào, náo động. Qua sự gặp gỡ với Thiên Chúa, Ê-li-a nhận ra rằng sứ mệnh của mình còn gặp nhiều bất trắc, đau khổ, nhưng luôn được sự nâng đỡ, phù trì của Người.

Trong Cựu Ước, tác giả sách Khôn Ngoan viết: “Khi vạn vật chìm sâu trong thinh lặng, lúc đêm trường chừng như điểm canh ba, thì từ trời cao thẳm, lời toàn năng của Ngài đã rời bỏ ngôi báu, ví tựa người chiến sĩ can trường xông vào giữa miền đất bị tru diệt, mang theo bản án không thể hủy của Ngài như lưỡi gươm sắc bén” (Kn 18,14-15). Thiên Chúa thinh lặng, trong môi trường vĩnh cửu, Thiên Chúa chỉ có một Lời thôi, Lời đó chính là Đức Giê-su Ki-tô. Nhờ Người và trong Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tạo dựng muôn vật muôn loài và khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã ‘nói Lời đó’ trong môi trường thế giới thụ tạo. Lời đã làm người và ở giữa chúng ta (Is 7,14; Ga 1,1-18).

Giáng Sinh là biến cố thinh lặng. Ngôi Lời đến thế gian trong đêm tối, trong thinh lặng. Người đã không xuất hiện ‘ồn ào’ ở Giê-ru-sa-lem hay nơi phố phường đông đúc, nhộn nhịp, vội vã nào đó của đất nước Do-thái, nhưng đã xuất hiện ‘kín tiếng’ ở Bê-lem quê mùa. Lời bài hát nổi tiếng nhất trong dịp Giáng Sinh diễn tả rất đúng về Biến Cố này: Đêm thinh lặng, đêm thánh thiện, tất cả an bình (silent night, holy night, all is calm). Sự thinh lặng của Biến Cố Giáng Sinh là sự thinh lặng linh thiêng, sự thinh lặng nhiệm mầu, sự thinh lặng ban ơn cứu độ. Sự thinh lặng này giúp cho những ai thao thức tìm Người có thể nghe được lời chỉ dẫn để đến gặp Người.

Chúng ta nhận thức rằng đặc tính chung của mọi người trong Gia Đình Na-da-rét là thinh lặng. Thánh Giu-se thinh lặng, Đức Ma-ri-a thinh lặng, Đức Giê-su thinh lặng. Sự thinh lặng của Thánh Gia diễn tả sự thinh lặng của Gia Đình Thiên Chúa. Kinh Thánh Tân Ước chỉ có ‘7 lời’ của Đức Ma-ri-a (Lc 1,34; Lc 1,38; Lc 1,40; Lc 1,46-55; Lc 2,48; Ga 2,3; Ga 2,5). Còn thánh Giu-se thì các tác giả Kinh Thánh Tân Ước không ghi lại lời nói trực tiếp nào của ngài. Đặc tính duy nhất diễn tả thánh Giu-se là ‘công chính’. Trong bối cảnh Kinh Thánh, người công chính cũng chính là người thánh thiện, người thinh lặng, người luôn kết hợp với Thiên Chúa và thực thi thánh ý Người.

Đức Ma-ri-a không chỉ thinh lặng, mà còn ‘ghi nhớ những điều đó và suy đi nghĩ lại trong lòng’, nghĩa là trong môi trường thinh lặng (Lc 2,19.51). Sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a chính là ‘sự thinh lặng cộng tác vào chương trình của Thiên Chúa’. Đức Ma-ri-a đã học được ngôn ngữ Thiên Chúa và nói chuyện với Người bằng ngôn ngữ này. Sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a là sự thinh lặng thánh thiện, bởi vì sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a đồng nghĩa với việc suy niệm Lời Chúa, yêu mến Thiên Chúa, phụng thờ Thiên Chúa, tin tưởng vào Thiên Chúa, hy vọng vào Thiên Chúa, phó thác đường đời cho Thiên Chúa và ngạc nhiên trước mặc khải của Thiên Chúa trong công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa.

Thánh Giu-se là người có đời sống thinh lặng đặc biệt. Khi được tin Đức Ma-ri-a, bạn đời của mình mang thai và chắc chắn rằng đó không phải là con ruột của mình, ngài có ý định lìa bỏ Đức Ma-ri-a cách kín đáo, cách thinh lặng. Tuy nhiên, trong giấc mơ, sứ thần truyền tin cho thánh Giu-se và trao ban sứ mệnh đón Đức Ma-ri-a về nhà mình. Không như những trường hợp khác, chẳng hạn, việc truyền tin cho Đức Ma-ri-a hay truyền tin cho Da-ca-ri-a đều diễn ra khi các ngài thức tỉnh, còn thánh Giu-se thì được truyền tin trong giấc mơ, trong thinh lặng. Tuy nhiên, thánh nhân đã trung tín thực thi thánh ý Thiên Chúa. Đức Giê-su được sinh ra và lớn lên với sự chăm sóc âm thầm và cần mẫn của thánh Giu-se. Như Đức Ma-ri-a, thánh Giu-se luôn ở lại với Thiên Chúa, lắng nghe Lời Thiên Chúa, tin tưởng vào Lời Thiên Chúa, hiệp thông với Lời Thiên Chúa và thực thi Lời Thiên Chúa cách trung tín nhất. Đặc biệt, thánh nhân đắm chìm trong mầu nhiệm Con Thiên Chúa xuống thế làm người và giữ vai trò quan trọng trong chương trình kỳ diệu này.

Người ta thường nói rằng ‘con nhà tông không giống lông cũng giống cánh’. Đức Giê-su là Thiên Chúa, Đấng Thinh Lặng, tuy nhiên, trong thân phận con người, Đức Giê-su cũng học hỏi được đời sống thinh lặng từ Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se. Cuộc đời trần thế của Đức Giê-su là cuộc đời thinh lặng. Ngoại trừ Biến Cố Giáng Sinh và sự việc xảy ra lúc Người mười hai tuổi ở Giê-ru-sa-lem, chúng ta không biết gì nữa về thời thơ ấu của Người cho đến khi Người bắt đầu sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Trước các biến cố lớn trong hành trình loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su luôn dành thời gian thinh lặng và cầu nguyện. Người đã vào sa mạc ăn chay, cầu nguyện và chịu ma quỉ cám dỗ bốn mươi đêm ngày. Sự kiện này gợi lên cho chúng ta biến cố Dân Do-thái rong ruổi trong sa mạc bốn mươi năm. Thay vì thinh lặng để đón nhận và thực thi thánh ý Thiên Chúa, họ đã nhiều lần to tiếng, than trách và phản nghịch chương trình Thiên Chúa. Trong khi đó, Đức Giê-su thinh lặng để gặp gỡ Thiên Chúa Cha, thinh lặng để nhận ra sứ mệnh của mình, thinh lặng để đón nhận sức mạnh chống trả ma quỉ, thinh lặng để cảm nhận sự đau khổ của thân phận con người, thinh lặng để nhận ra những bất cập gây nên bởi ‘sự ô nhiễm tiếng ồn’ trong xã hội loài người do tội lỗi gây nên.

Không nơi nào trong Tin Mừng cho thấy rằng Đức Giê-su dùng ‘quá nhiều lời’ khi giảng dạy dân chúng. Người dùng lời vừa đủ cho người nghe. Có những điều Người không giải thích dài dòng, nhưng dùng dụ ngôn để có thể giảm thiểu lời nói. Thánh Mác-cô trình thuật: “Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà rao giảng lời cho họ, tùy theo mức họ có thể nghe. Người không bao giờ rao giảng cho họ mà không dùng dụ ngôn” (Mc 4,33-34). Có những lúc sau khi giải thích, Đức Giê-su nói với những người lắng nghe: “Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19,12). Rõ ràng, trong hành trình rao giảng, Đức Giê-su đề cao việc thinh lặng, lắng nghe và phân định của thính giả.

Khi Đức Giê-su chữa người vừa điếc vừa ngọng ở miền Thập Tỉnh, Người truyền cho những người chứng kiến không được kể lại chuyện đó (Mc 7,31-36). Tương tự như vậy, sau khi biến hình trên núi Ta-bo, từ trên núi xuống, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (Mt 17,1-8). Câu hỏi đặt ra là tại sao Đức Giê-su lại nói với các môn đệ như vậy? Thưa, tại vì Đức Giê-su muốn con người hiểu đúng hơn về sứ mệnh của Người giữa lòng nhân thế. Người muốn tất cả đều thinh lặng cho đến khi toàn bộ sự thật về chương trình dương thế của Người được biểu lộ cách trọn vẹn trong khổ nạn, chịu chết và phục sinh của Người. Người cũng muốn các môn đệ hiểu rằng một lời nói mà không hiểu được ý nghĩa, một lời tuyên xưng đức tin mà không đi kèm hành động và lối sống phù hợp, thì đó chỉ là những tiếng kêu trống rỗng, không chuyển tải sự thật.

Thánh Mát-thêu trình thuật rằng khi Đức Giê-su đi về miền dân ngoại (địa hạt Tia và Xi-đôn, ngày nay ở phía Nam đất nước Li-băng), một người phụ nữ Ca-na-an xuất hiện và xin Đức Giê-su trừ quỉ cho con gái của bà. Tuy nhiên, ban đầu, Đức Giê-su thinh lặng, không trả lời sự khẩn cầu của người phụ nữ. Sau đó là cuộc đối thoại ngắn và Đức Giê-su đã tán dương bà: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy” (Mt 15,28). Niềm tin và sự kiên nhẫn của bà đã được đền đáp bằng việc con bà được chữa khỏi. Như vậy, sự thinh lặng của Đức Giê-su đã đem lại hiệu quả lớn lao, đó là lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ và niềm tín thác của người phụ nữ được củng cố. Đọc Tân Ước, chúng ta có được nhận thức chung rằng, sau sự thinh lặng, Đức Giê-su thường mặc khải những điều lớn lao, kỳ diệu để cứu giúp mọi người.

Câu chuyện Đức Giê-su cho La-da-rô hồi sinh đáng để chúng ta quan tâm. Khi nghe tin La-da-rô, người được Đức Giê-su thương mến bị đau nặng, Người đã không trực tiếp đến thăm viếng ngay. Người đã thinh lặng trước cái chết của La-da-rô, còn La-da-rô thì thinh lặng trong mộ. Khi Người tới thì La-da-rô đã được chôn trong mộ bốn ngày, đã ‘nặng mùi’ rồi. Tuy nhiên, Đức Giê-su đã làm cho La-da-rô hồi sinh trước sự ngỡ ngàng của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a cũng như những người thân thuộc. Sự thinh lặng, sự chậm trễ của Đức Giê-su được xem như chuẩn bị cho mặc khải lớn lao là hồi sinh kẻ chết. Trong biến cố này có bốn điểm quan trọng đáng để chúng ta quan tâm: (1) tình yêu của Đức Giê-su, (2) quyền năng của Đức Giê-su, (3) căn tính của Đức Giê-su là ‘sự sống lại và là sự sống’ (Ga 11,25), và (4) niềm hy vọng vào sự sống vĩnh cửu của mọi người được diễn tả và củng cố.

Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, chúng ta thấy hai cảnh thinh lặng: (1) Đức Giê-su và (2) các môn đệ. Đức Giê-su ‘thinh lặng cầu nguyện’, còn các môn đệ thì ‘thinh lặng ngủ nghỉ’. Chúng ta có thể gọi hai hình thức thinh lặng này là ‘thinh lặng siêu nhiên’ (Đức Giê-su) và ‘thinh lặng tự nhiên’ (các môn đệ). Cũng trong vườn Ghết-sê-ma-ni, thinh lặng siêu nhiên đưa đến sự tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa Cha và kết hợp với Người. Đức Giê-su đã thưa lên với Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha” (Lc 22,42). Quả thật, trong thân phận con người, Đức Giê-su cảm nhận được sự cô đơn, đau khổ tột bậc. Nhưng Người luôn tin tưởng và vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha và đã trở nên căn nguyên cứu độ tất cả mọi người.

Thánh Lu-ca trình thuật rằng trong cuộc khổ nạn, khi Đức Giê-su bị bắt, “một người tớ gái nhìn Phê-rô chòng chọc và nói: Cả bác này cũng đã ở với ông ấy đấy! Ông liền chối: Tôi có biết ông ấy đâu, chị!” (Lc 22,56-57). Sau đó, một người khác nữa cũng quả quyết rằng Phê-rô ở với Đức Giê-su, Phê-rô chối phăng. Khi người thứ ba khẳng định Phê-rô ở với Đức Giê-su, Phê-rô vừa chối xong thì gà gáy. Đó là hệ quả của sự ‘thinh lặng tự nhiên’ từ phía các môn đệ trong vườn Ghết-sê-ma-ni. Sau đó, Đức Giê-su quay lại nhìn Phê-rô và Phê-rô nhớ lại lời Đức Giê-su: “Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần” (Lc 22,61). Phê-rô đã ăn năn hối cải. Thánh Lu-ca không cho chúng ta biết ánh mắt của hai người sau có nhìn Phê-rô ‘chòng chọc’ như người tớ gái đầu tiên hay không, nhưng ánh mắt của những người đó đã làm cho trái tim của Phê-rô loạn nhịp và Phê-rô đã chối Thầy mình. Tuy nhiên, khi ánh mắt thinh lặng, ánh mắt nhân từ, ánh mắt tha thứ, ánh mắt trái tim của Đức Giê-su hướng về Phê-rô, vị tông đồ đã ăn năn hối cải. Từ đây, Phê-rô đã trung thành với ơn gọi và sứ mệnh của mình cho đến lúc bị treo ngược trên thập giá và tử đạo tại Rô-ma. Đây là hệ quả của sự ‘thinh lặng siêu nhiên’ xuất phát từ sự kết hiệp mật thiết với Đức Giê-su.

Tam Nhật Vượt Qua luôn là thời gian đặc biệt, thời gian quan trọng nhất, thời gian đỉnh điểm, thời gian trung tâm diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Trước cái chết, Đức Giê-su cảm nhận được sự thinh lặng nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đức Giê-su đã thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,43). Với cái chết, Đức Giê-su đã xuống vực thẳm thinh lặng rùng rợn nhất của thân phận con người. Đức Giê-su đã tham dự vào sự thinh lặng đau thương của tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Người thông phần với sự thinh lặng này để ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Như vậy, sự thinh lặng kỳ diệu nhất của Đức Giê-su trong hành trình nhân thế là sự thinh lặng trong nấm mộ. ‘Vị Thiên Chúa chết’, đó là sự kiện không những không thể tưởng tượng nổi đối với những người Hy-lạp hay Do-thái, mà còn không thể tưởng tượng nổi đối với tất cả mọi người trong các nền văn hóa từ cổ chí kim. Hôm nay, ‘Vị Thiên Chúa chết’ vẫn còn là nỗi ám ảnh cho biết bao người. Quả thực, nếu cuộc đời Đức Giê-su chỉ tới đó thì không còn gì để nói nữa. Tuy nhiên, Người đã tiêu diệt sự chết, Người đã sống lại. Sự chết mạnh, nhưng sự thinh lặng của Đức Giê-su trong sự chết còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng tình yêu Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giê-su còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng sự sống lại của Đức Giê-su còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng tiếng nói cuối cùng của con người và muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo không phải là tiếng nói của sự chết, nhưng là tiếng nói của Đấng Phục Sinh, Đấng Thinh Lặng, Đấng Hằng Sống.

Những gì Đức Giê-su nói và làm trong hành trình dương thế minh chứng rằng Người từ Thiên Chúa mà đến, Người là Thiên Chúa. Tuy nhiên, con người thường quan tâm đến nhân tính của Đức Giê-su hơn là thần tính của Người. Thần tính của Người hầu như ‘thinh lặng’, ẩn dấu, bởi vì trong mọi sự, Đức Giê-su đều qui hướng về Thiên Chúa Cha, chứ không phải bản thân mình. Giáo Hội sơ khai cần đến gần năm thế kỷ để có được định tín cách đầy đủ hơn về Đức Giê-su, Thiên Chúa thật và con người thật với Công Đồng Can-xê-đô-ni-a (Chalcedon, 451). Những khai triển và học hỏi về Đức Giê-su vẫn tiếp tục trong khi Đức Giê-su vẫn thinh lặng.

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta ngạc nhiên trước những gì mắt chúng ta thấy được, tai chúng ta nghe được và lòng chúng ta cảm nghiệm được. Chúng ta ngạc nhiên trước những khám phá của con người về những qui luật trong vũ trụ. Chúng ta ngạc nhiên trước những gì mà thế giới tự nhiên ban tặng để con người sống xứng đáng với phẩm giá của mình. Tuy nhiên, những gì mắt chúng ta không thấy, trí và tâm chúng ta không thể đụng chạm hay cảm nghiệm được lại còn kỳ diệu hơn. Chẳng hạn, có những hình thức tồn tại khác trong thế giới thụ tạo này mà con người không thể nào vươn tới hay giải thích được trong điều kiện hiện tại, chẳng hạn như năng lượng tối (dark energy) hay vật chất tối (dark matter). Bản chất đích thực của ‘năng lượng tối là gì?’ hay ‘vật chất tối là gì?’, chưa ai có thể biết và diễn tả cách đầy đủ được. Điều mà con người biết được là: Nếu không có năng lượng tối và vật chất tối thì vũ trụ khả giác, vũ trụ vật chất, vũ trụ cấu tạo bằng những ‘viên gạch nguyên tử’ không thể tồn tại được. Quả thật, những gì ‘vô hình trong thế giới thụ tạo’ luôn dồi dào và kỳ diệu hơn những gì hữu hình mà con người có thể cân đong đo đếm hay giải thích. Nói cách khác, ‘những gì thinh lặng’ thì kỳ diệu hơn, mạnh mẽ hơn, siêu việt hơn ‘những gì ồn ào’. Trong thế giới thụ tạo, con người có thể cảm nghiệm được rằng ‘thinh lặng là đỉnh cao của âm thanh’. Trong thinh lặng của tâm hồn và không gian, con người có thể nghe được tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của vũ hoàn và tiếng nói của Đấng Sáng Tạo.

Trong lĩnh vực khoa học, nhiều trường hợp cho thấy những khám phá về các quy luật thiên nhiên, hoặc các phát minh kỳ diệu, lại là hệ quả của tiến trình thinh lặng. Câu chuyện Isaac Newton thấy trái táo rơi và đã khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn là câu chuyện giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của thinh lặng. Chắc rằng Newton đã thinh lặng, đã tìm hiểu, đã ưu tư nhiều về sự thinh lặng của muôn vật muôn loài trong vũ trụ. Việc Newton khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn là hiệu quả, là hoa trái của tiến trình lâu dài, chứ không chỉ là sản phẩm của ngạc nhiên, may rủi. Nếu Newton không thinh lặng, không chú tâm đủ thì không bao giờ có được hoa trái mỹ mãn như vậy. Nhìn chung, những khám phá, sáng chế từ các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau đều đến từ những người có khả năng đi vào thế giới thinh lặng. Như vậy, những người biết thinh lặng, biết chuẩn bị mới có thể đọc được những gì xảy đến cách bất ngờ.

Chúng ta không chỉ được mời gọi lắng nghe tiếng nói của người này, người kia mà còn được mời gọi lắng nghe ‘tiếng nói của thinh lặng’. Đặc điểm của các thánh trong lịch sử Giáo Hội là thực thi đời sống thinh lặng. Nói cách khác: Những người thánh thiện cũng là những người thinh lặng [sự thinh lặng của tâm hồn hiệp thông với Thiên Chúa] và ngược lại. Nhờ thinh lặng, các ngài có được kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa và diễn tả kinh nghiệm gặp gỡ đó bằng lời nói và hành động thánh thiện của mình. Đọc hạnh các thánh tử đạo, ai cũng ngạc nhiên về sự thinh lặng, sự bình an của các ngài khi phải đối diện với cái chết. Chúng ta cần ý thức rằng để có được sự thinh lặng, sự bình an như vậy, các ngài đã thực thi đời sống thinh lặng, đời sống bình an. Nói cách khác, các ngài đã chuẩn bị cho sự thinh lặng, sự bình an trước cái chết bằng cuộc đời thinh lặng, cuộc đời bình an gắn kết mật thiết với Đức Giê-su, Đường Thinh Lặng, Đường Bình An, được Thiên Chúa gửi đến cho nhân loại.

Theo gương Đức Giê-su, các nhà thần bí (mystics) là những người có kinh nghiệm đặc biệt về môi trường thinh lặng. Họ nhận ra rằng đời sống thinh lặng là đời sống lý tưởng để họ gặp gỡ Thiên Chúa và thỉnh vấn ý Người. Các ngài đã trở nên mẫu gương sống động cho chúng ta về sự hoán cải và qui hướng về Thiên Chúa, chẳng hạn như thánh Gio-an Tẩy Giả, Tê-rê-xa A-vi-la, Gio-an Thánh Giá. Họ là những nhân chứng mạnh mẽ nhất cho sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa, cũng như tình yêu của Người. Mẹ Tê-rê-xa Can-cút-ta nói: “Hoa trái của thinh lặng là cầu nguyện, hoa trái của cầu nguyện là niềm tin, hoa trái của niềm tin là tình yêu, hoa trái của tình yêu là phục vụ, hoa trái của phục vụ là bình an.” Như vậy, thinh lặng là khởi đầu cho những hiệu quả tốt lành: Cầu nguyện, đức tin, tình yêu, phục vụ, bình an. Thực ra, theo một nghĩa nào đó thì ‘bình an’ cũng có nghĩa là ‘thinh lặng’ hay nói cách khác, môi trường bình an cũng là môi trường thinh lặng và ngược lại. Như vậy, ‘thinh lặng’ vừa là khởi đầu, vừa là kết thúc, vừa là khởi đầu mới.

Thinh lặng là điều kiện cần thiết để chúng ta nhận ra Thiên Chúa, nhận ra bản thân mình. Trong tác phẩm Tự Thuật, thánh Au-gút-ti-nô viết: ‘Thiên Chúa thân mật với tôi hơn tôi với chính mình’ (Deus est intimior intimo meo) hay ‘Thiên Chúa sâu thẳm trong tôi hơn tôi với chính mình và cao cả trong tôi hơn tôi với chính mình’ (Deus est interior intimo meo et superior summo meo). Chắc chắn rằng, nhờ thinh lặng, thánh nhân đã có được kinh nghiệm quí giá đó và ngài đã truyền lại cho tất cả mọi người. Sứ điệp mà ngài muốn gửi đến là: Khi con người càng gần Thiên Chúa bao nhiêu, thì càng gần chính mình bấy nhiêu và ngược lại.

Người ta kể lại rằng trong đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), quân lính Đức lùng bắt tất cả những người Do-thái và tống vào các trại tập trung. Ở đây, họ phải chịu nhiều hình thức cực hình cho đến chết. Có một cô gái trẻ Do-thái thoát được và trốn trong một cái hang. Khi người ta tìm thấy xác cô, họ cũng phát hiện trên bức tường của hang đó cô gái viết mấy câu: “Tôi tin có mặt trời, ngay cả khi nó không chiếu sáng. Tôi tin vào tình yêu, ngay cả khi tôi đơn độc. Tôi tin vào Thiên Chúa, ngay cả khi Người thinh lặng.” Với cô gái Do-thái này, khi con người không thấy mặt trời, không có nghĩa là mặt trời không hoạt động. Khi con người đơn độc, không có nghĩa là tình yêu không hiện hữu. Tương tự như thế, khi Thiên Chúa thinh lặng không có nghĩa là Người không hành động.

Thinh lặng, lời nói và hành động được xem là ba cột trụ căn bản trong đời sống con người. Trong đó, thinh lặng đóng vai trò quan trọng nhất. Thinh lặng chính là căn nguyên, là nền tảng và là môi trường khởi xuất lời nói và hành động. Nếu con người không có được sự thinh lặng đúng nghĩa, con người cũng không thể nói năng và hành động đúng được. Như vậy, vấn đề chính yếu mà chúng ta cần quan tâm là luôn tạo sự hòa hợp giữa thinh lặng, lời nói và hành động. Trong trường hợp không thể, ưu tiên phải là thinh lặng. Tuy nhiên, khi sự lên tiếng hay hành động của chúng ta đem lại bình an, sự thật, sự lành thì chúng ta cần phải thực thi. Còn người nào chỉ có nói mà không hành động tốt, thì họ không phải là người môn đệ thực thụ của Đức Giê-su (Mt 7,21-27). Thánh Phao-lô viết: “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” (2 Tm 4,2).

Người Ni-giê-ri-a có câu ngạn ngữ: “Hãy lắng nghe và bạn sẽ nghe được bước chân của những con kiến.” Chúng ta học hành và luyện tập nhiều thứ để chuẩn bị cho cuộc sống. Tuy nhiên, chúng ta ít luyện tập cho mình khả năng thinh lặng. Ai không có khả năng thinh lặng, người đó cũng không có khả năng lắng nghe tiếng lòng mình, và cũng không thể lắng nghe tiếng Thiên Chúa, bởi vì tiếng Thiên Chúa đến với những tâm hồn thinh lặng. Hơn nữa, thinh lặng là điều kiện cần thiết giúp chúng ta phân biệt đâu là tiếng Thiên Chúa và đâu là tiếng của ác thần. Tiếng Thiên Chúa thường là tiếng mời gọi sống bác ái, hoán cải, hướng tới sự lành. Tiếng ma quỉ thường là tiếng xui khiến, rủ rê, chia rẽ, tạo nghi ngờ lẫn nhau, đặc biệt, nghi ngờ về tình yêu Thiên Chúa hay sự hiện diện và hoạt động của Người.

Năng lực thinh lặng diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của chúng ta không phải tự nhiên mà có, trái lại, chúng ta cần không ngừng vun đắp mỗi ngày. Chúng ta cần tạo cho mình khả năng thinh lặng hơn là khả năng ồn ào, khả năng lắng nghe hơn là khả năng gào thét, khả năng thông cảm hơn là khả năng chỉ trích, khả năng nhìn nhận những điều tốt nơi người khác hơn là khả năng ‘vạch lá tìm sâu’ nơi họ, khả năng giúp người khác biến đổi hơn là khả năng trù dập, khả năng cởi mở hơn là khả năng đóng kín, khả năng trút bỏ hơn là khả năng sở hữu. Để có được những khả năng đó, chúng ta không có con đường nào khác ngoài Đường Thinh Lặng của Đức Giê-su.

Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng họ ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian (Ga 15,18-19). Câu hỏi đặt ra là làm sao các môn đệ có thể không thuộc về thế gian được? Câu trả lời là các môn đệ ở giữa thế gian với muôn vàn tiếng động, tuy nhiên, các ngài có được sự thinh lặng hay sự bình an của Đức Giê-su, bình an mà thế gian không thể ban tặng (Ga 14,27). Tâm hồn các ngài được liên kết mật thiết với Đức Giê-su. Nhờ đó, các ngài vững tâm giữa muôn vàn bấp bênh, khốn khó và đau khổ của cuộc đời. Đồng thời, các ngài trở nên khí cụ hữu hiệu trong việc loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người cho anh chị em đồng loại.

Đường của Đức Giê-su là Đường Thinh Lặng, Đường giúp chúng ta gặp gỡ chính mình, gặp gỡ anh chị em chúng ta, gặp gỡ muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, đặc biệt, gặp gỡ Thiên Chúa. Để đi Đường đó, chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su trong máng cỏ, chiêm ngắm Đức Giê-su trong lúc trốn sang Ai-cập, chiêm ngắm Đức Giê-su trong Gia Đình Na-da-rét. Chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su trong sa mạc bốn mươi đêm ngày, chiêm ngắm Đức Giê-su cúi xuống với những người bệnh tật, bị quỉ ám và muôn hình thức đau khổ khác, chiêm ngắm Đức Giê-su trên núi Ta-bo. Chúng ta được mời gọi để chiêm ngắm Đức Giê-su trên thập giá, chiêm ngắm Đức Giê-su chịu chết và chịu mai táng trong mộ, chiêm ngắm Đức Giê-su phục sinh vinh hiển. Đặc biệt, chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su Thánh Thể, chiêm ngắm Đức Giê-su khi chia sẻ Lời Chúa, chiêm ngắm Đức Giê-su trong anh chị em mình.

Qua những gì được trình bày trên đây, chúng ta có thể xác quyết rằng Thiên Chúa là Đấng Thinh Lặng và Đức Giê-su đã đi Đường Thinh Lặng để đến với gia đình nhân loại. Cuộc đời Người trong hành trình trần thế đặt nền tảng trên sự thinh lặng. Là Thiên Chúa trong thân phận con người, Đức Giê-su trở nên mẫu gương cho chúng ta về đời sống thinh lặng, cầu nguyện, vâng phục, tin tưởng, lắng nghe và thực thi thánh ý Thiên Chúa. Trong Chúa Thánh Thần, Đức Giê-su luôn hiện diện với tất cả chúng ta. Giữa cảnh ồn ào, náo động của thế sự, Người luôn mời gọi tất cả chúng ta hãy đi Đường Thinh Lặng của Người để chúng ta có thể đạt được sự hòa hợp giữa các yếu tố trong đời sống cá nhân, hòa hợp với anh chị em, hòa hợp với muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, và đặc biệt, hòa hợp với Thiên Chúa.

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên
Ủy ban Giới Trẻ và Thiếu Nhi / HĐGM VN

Các chủ đề học hỏi và suy niệm năm 2020:

Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 8 năm 2020

Các bạn trẻ thân mến,

Tháng Bảy vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Mục Tử Nhân Lành. Tháng Tám này, cùng nhau chúng ta suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Thánh Thiện. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa là Đấng Thánh và là Nguồn mọi sự thánh thiện. Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, đã đi Đường Thánh Thiện để đến với gia đình nhân loại. Đường đó tiếp tục sống động trong Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm của Người, và được diễn tả cách cụ thể nơi đời sống của các Ki-tô hữu qua mọi thời đại.

Thông thường, thánh thiện được hiểu như là tình trạng của thực thể (người hoặc sự vật) được dành riêng cho mục đích tôn giáo hoặc tiến dâng cho Thiên Chúa. Còn theo thánh Tô-ma A-qui-nô, thánh thiện là đức hạnh mà con người diễn tả chính mình cũng như hành động phù hợp với thánh ý Thiên Chúa. Người thánh thiện là người ‘gần với căn tính’ của mình nhất. Kinh nghiệm của các thánh trong dòng lịch sử Giáo Hội cho chúng ta biết như vậy. Đặc biệt, đây cũng là kinh nghiệm của thánh Au-gút-ti-nô và Tô-ma Mơ-tần (Thomas Merton, tu sĩ Dòng Trappist). Nói cách khác, con người càng thánh thiện bao nhiêu, thì càng gần gũi với căn tính của mình bấy nhiêu.

Mặc khải Kinh Thánh cho chúng ta nhận thức rằng Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu và là Đấng Thánh. ‘Tên’ của Thiên Chúa là ‘Thánh’ (Ed 36,22-24; Lc 1,49). Trong tiếng Do-thái, hạn từ ‘thánh’ là ‘qadosh’ và được dịch sang tiếng Hy Lạp là ‘hagios’. Hạn từ này có nghĩa nguyên thủy là cắt, tách biệt. Thiên Chúa tách ra khỏi những gì phàm tục. Người siêu việt muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo. Thiên Chúa được tung hô: ‘thánh, thánh, thánh’ (Thiên Chúa ba lần thánh) nhằm diễn tả sự siêu việt với ‘sức mạnh vô song’ và ‘thánh thiện tuyệt đối’ của Người. Cách tung hô này được đề cập hai lần trong bộ Kinh Thánh, một lần trong Cựu Ước và một lần trong Tân Ước (Is 6,3; Kh 4,8). Trong mỗi Thánh Lễ, trước khi bánh và rượu được thánh hiến, cộng đoàn Thánh Thể tung hô ‘thánh, thánh, thánh’. Sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa là đặc tính căn bản nhất, các đặc tính khác liên kết hoặc diễn tả đặc tính thánh thiện của Người.

Thiên Chúa thông truyền sự thánh thiện của Người cho muôn vật muôn loài. Người thông truyền qua việc thánh hiến, tách biệt con người và vật ra khỏi thế giới phàm tục theo ý định của Người. Chẳng hạn, Thiên Chúa đã tách biệt Dân Do-thái khỏi các dân khác và trao ban sứ mệnh cộng tác vào chương trình cứu độ của Người. Trong sách Lê-vi, Thiên Chúa phán: “Các ngươi phải thuộc về Ta, phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Ta là Đấng Thánh, và Ta đã tách biệt các ngươi ra khỏi các dân để các ngươi thuộc về Ta” (Lv 20,26). Ngay trong Dân Do-thái, chi tộc Lê-vi được dành riêng để ‘chuyên lo việc Nhà Chúa’. Một số đồ vật cũng được thánh hiến hay dành riêng cho việc tế tự.

Sự thánh thiện của Thiên Chúa được biểu lộ qua vinh quang của Người. Vinh quang chiếu giãi vào đời sống con người và biến đổi con người thành không gian thánh thiện, nhờ đó, con người diễn tả sự thánh thiện và lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là con người không chỉ thụ động đón nhận phẩm chất thánh thiện Thiên Chúa trao ban, mà còn được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa trong việc thánh hóa bản thân, thánh hóa người khác và cùng nhau làm lành lánh dữ. Sự thánh thiện song hành với thực thi đời sống luân lý tốt đẹp là hệ quả tất yếu của tương quan giữa Thiên Chúa là Đấng Thánh và con người được mời gọi nên thánh.

Trong phụng vụ của Giáo Hội, theo Kinh nguyện Thánh Thể II: Thiên Chúa là ‘nguồn mạch mọi sự thánh thiện’. Điều này có nghĩa rằng sự thánh thiện của Thiên Chúa là sự thánh thiện Gốc, sự thánh thiện Nguồn. Các hình thức thánh thiện trong môi trường thế giới thụ tạo phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa. Đặc biệt, sự thánh thiện của Thiên Chúa được biểu lộ cách trọn vẹn nơi sự thánh thiện của Đức Giê-su trong hành trình trần thế.

Là Thiên Chúa trong thân phận con người, sự thánh thiện của Đức Giê-su được diễn tả qua hai hình thức phân biệt nhau: ‘Sự thánh thiện từ trên xuống’ và ‘sự thánh thiện từ dưới lên’. ‘Sự thánh thiện từ trên xuống’ có nghĩa rằng Đức Giê-su diễn tả sự thánh thiện của Thiên Chúa đối với con người, bởi vì Người là Thiên Chúa thật. ‘Sự thánh thiện từ dưới lên’ có nghĩa rằng Đức Giê-su diễn tả sự thánh thiện của con người, bởi vì Đức Giê-su là con người thật. Nhân danh toàn thể nhân loại, Đức Giê-su đã vâng phục đáp lại chương trình của Thiên Chúa và trở nên mẫu gương hoàn hảo cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Chúng ta có thể nói rằng hai hình thức thánh thiện này trở nên một nơi Đức Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Như vậy, Đức Giê-su là Đường Thánh Thiện hai chiều, từ Thiên Chúa đến con người và từ con người đến Thiên Chúa.

Trong Cựu Ước, sách Sáng Thế cho chúng ta biết sau khi Nguyên Tổ phạm tội, Thiên Chúa đã ban Lời Hứa về chiến thắng của sự thánh thiện trên sự dữ (St 3,15). Khoảng 700 năm trước Biến Cố Giáng Sinh, ngôn sứ I-sai-a loan báo về Đức Giê-su, Đấng gánh tội nhân loại để muôn người được trở nên thánh thiện (Is 53,11). Trong Tân Ước, khi sứ thần Gáp-ri-en truyền tin cho Đức Ma-ri-a rằng ‘bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su’, thì Đức Ma-ri-a rất bối rối. Sứ thần đã trấn an Đức Ma-ri-a rằng người con mà bà cưu mang là bởi Chúa Thánh Thần và quyền năng Đấng Tối Cao. Người con đó là ‘Đấng Thánh’ và là Con Thiên Chúa (Lc 1,30-35).

Sự thánh thiện của Đức Giê-su được diễn tả cách đặc biệt trong hành trình rao giảng của Người. Trong Diễn Từ Bánh Hằng Sống, Đức Giê-su hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6,67). Nhân danh các môn đệ, thánh Phê-rô đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69). Chứng kiến sự thánh thiện và quyền năng của Đức Giê-su trước mẻ cá lạ, thánh Phê-rô nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5,8). Với những người Pha-ri-sêu, Đức Giê-su nói: “Ai trong các ông chứng minh được là tôi có tội?” (Ga 8,46). Trong cuộc khổ nạn, sau khi Đức Giê-su trả lời câu hỏi của thượng tế Cai-pha, một tên trong nhóm thuộc hạ của thượng tế đánh Đức Giê-su, thì Người nói: “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18,23). Trong thư thứ nhất, thánh Gio-an viết: “Phần anh em, anh em nhận được dầu, do tự Đấng Thánh, và tất cả anh em đều được ơn hiểu biết” (1 Ga 2,20). Cũng trong thư này, thánh nhân viết: “Đức Giê-su đã xuất hiện để xóa bỏ tội lỗi, và nơi Người không có tội lỗi” (1 Ga 3,5). Như thế, Kinh Thánh cho chúng ta bức tranh khá đầy đủ về sự thánh thiện của Đức Giê-su.

Không chỉ các môn đệ hay những ai lắng nghe và tin tưởng vào Đức Giê-su mới nhận ra sự thánh thiện của Người, các thế lực chống đối Người hay ma quỉ cũng nhận ra điều đó. Chẳng hạn, khi Đức Giê-su giảng dạy tại Ca-phác-na-um, ngày sa-bát, Người vào hội đường, có kẻ bị thần ô uế nhập la lên: “Ông Giê-su Na-da-rét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!” (Mc 1,24). Chứng kiến cái chết của Đức Giê-su và những sự kiện lạ lùng, viên đại đội trưởng và những người canh giữ Đức Giê-su thốt lên: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27,54). Như vậy, sự thánh thiện của Đức Giê-su là sự thánh thiện siêu việt và biểu lộ trong mọi hoàn cảnh. Muôn vật hữu hình và vô hình đều nhận biết, kính sợ và thành khẩn tuyên xưng.

Sự thánh thiện của Đức Giê-su là sự thánh thiện trổi vượt trên tất cả các hình thức thánh thiện trong thế giới thụ tạo. Đồng thời, Đức Giê-su chia sẻ sự thánh thiện của Người cho tất cả mọi người để mọi người được ơn cứu độ. Do đó, khi chúng ta nói rằng Đức Giê-su là Đấng cứu độ mọi người cũng tương tự như nói rằng Người là Đấng làm cho mọi người trở nên thánh thiện.

Chúng ta đề cập đến sự thánh thiện của Đức Giê-su trong sự liên kết với Chúa Thánh Thần, vì ‘bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Đức Trinh Nữ Maria đã thụ thai và sinh hạ Đức Giê-su’. Chính Chúa Thánh Thần đồng hành cùng Đức Giê-su trong mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh. Chẳng hạn, thánh Gio-an Tẩy Giả nói về Phép Rửa trong Chúa Thánh Thần: “Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người [Đức Giê-su], Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần” (Mc 1,8). Sau khi Đức Giê-su lãnh nhận Phép Rửa tại sông Gio-đan và chịu cám dỗ trong sa mạc, Người về Na-da-rét. Ngày sa-bát, Đức Giê-su vào hội đường, người ta trao cho Người sách ngôn sứ I-sai-a, mở sách ra Người gặp đoạn: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Đặc biệt, Đức Giê-su mặc khải cho chúng ta Ngôi Vị Chúa Thánh Thần (Ga 14,16.26). Sau khi sống lại và trong Chúa Thánh Thần, Đức Giê-su tiếp tục hiện diện và hoạt động trong môi trường nhân loại để thực thi chương trình của Thiên Chúa qua việc thánh hóa nhân loại.

Ý định của Thiên Chúa là tất cả mọi người trở nên thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Trong thư gửi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô viết: “Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người” (Ep 1,4). Thánh Phao-lô mời gọi các Ki-tô hữu sống đời thánh thiện bằng cách thực thi những việc tốt lành và lánh xa những điều nguy hại, gây tổn thương hoặc đánh mất sự thánh thiện (Ep 5,1-14). Còn thánh Phê-rô khuyên dạy các tín hữu: “Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, để nên giống Đấng Thánh đã kêu gọi anh em, vì có lời Kinh Thánh chép: Hãy sống thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh” (1 Pr 1,15-16). Như vậy, trong nhãn quan của thánh Phê-rô và Phao-lô, hiểu biết về sự thánh thiện và thực thi đời sống thánh thiện đi đôi với nhau trong ơn gọi của các Ki-tô hữu.

Đời sống thánh thiện không dành riêng cho cá nhân hay cho cộng đoàn đặc biệt nào trong Giáo Hội. Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội Lumen Gentium của Công Đồng Vatican II (1962-1965) dành một chương về chủ đề thánh thiện (LG 39-42). Công Đồng nhấn mạnh đến sự thánh thiện duy nhất của Thiên Chúa được Đức Giê-su diễn tả và Người trở nên mẫu gương cho con người trên bình diện cá nhân cũng như cộng đoàn. Công Đồng nhấn mạnh tầm quan trọng của thánh thiện theo ‘đấng bậc mình’ và minh định: “Mọi Ki-tô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người” (LG 11). Tất cả mọi người được mời gọi không ngừng hoán cải để ngày càng trở nên thánh thiện hơn.

Quả thật, sự thánh thiện của con người là ‘sự thánh thiện hoán cải’. Điều này có nghĩa là con người không ngừng trở về với chính mình và với Thiên Chúa. Đây là đặc điểm chung nhất của các thánh trong lịch sử Giáo Hội. Các ngài không phải là những người ‘sinh ra là thánh thiện’, nhưng là những người không ngừng hoán cải để nhận diện căn tính của mình cách rõ ràng hơn và luôn qui hướng về Thiên Chúa là Đấng Thánh duy nhất. Con người trở nên thánh thiện nhờ đời sống hòa hợp giữa ‘tâm hồn không ngừng hoán cải’ và ‘ân sủng nhưng không’ của Thiên Chúa. Nói cách khác, con người trở nên thánh thiện khi chân thành đáp lại ân sủng của Thiên Chúa bằng trái tim không ngừng hoán cải của mình.

Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái viết: “Thiên Chúa sửa dạy là vì lợi ích của chúng ta, để chúng ta được thông phần vào sự thánh thiện của Người” (Dt 12,10). Lịch sử Giáo Hội cho chúng ta biết người thánh thiện không phải là người không bao giờ bị cám dỗ, người không có tội hay người không bao giờ phạm tội. Người thánh thiện là người luôn ý thức rằng chỉ có Thiên Chúa là Đấng Thánh và mình không thể tự làm cho mình trở nên thánh thiện được. Người thánh thiện là người nhận thức rằng mình không ngừng trở về, tìm hiểu, trả lời, thay đổi và tiến tới trong tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa. Người thánh thiện chính là người hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa và để Người sử dụng mình như khí cụ thuận tay Người.

Sự thánh thiện được thể hiện trong các tương quan của đời sống cá nhân, đời sống cộng đoàn, cũng như tương quan với Thiên Chúa và toàn thể thế giới thụ tạo. Các thánh trong lịch sử Giáo Hội khi đang sống trên trần gian không ai nghĩ rằng mình là ‘một vị thánh’. Các ngài không ‘soi gương ngắm sự thánh thiện của mình’, nhưng luôn hướng về Thiên Chúa là Đấng Thánh với tinh thần đơn sơ, phó thác. Các ngài luôn nhận thấy bản thân mình bất xứng, khiếm khuyết và nhiều khi ‘đêm tối bao phủ tâm hồn’. Thánh Tê-rê-xa A-vi-la, Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, Tê-rê-xa Can-cút-ta là những vị thánh điển hình. Các ngài luôn cảm thấy đời sống mình ‘bất tương hợp’ với danh hiệu và ơn gọi Ki-tô hữu, đặc biệt, ‘bất tương hợp’ với sự thánh thiện và tình yêu vô bờ của Thiên Chúa. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cũng có kinh nghiệm tương tự như vậy. Khi được hỏi: “Ngài là ai?” Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã trả lời: “Tôi là người tội lỗi.”

Với một số người, sự thánh thiện nên ‘dành riêng cho địa hạt tôn giáo’. Tuy nhiên, trong thực tế, sự thánh thiện cần được sống và diễn tả trong bất cứ môi trường nào của thực thể có tên gọi là ‘con người’. Chẳng hạn, để góp phần xây dựng nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống mà Giáo Hội hằng khuyến khích, cổ vũ, tất cả mọi người được mời gọi ý thức hơn về đời sống thánh thiện của mình. Tương tự như vậy, trong bối cảnh hôm nay, ‘phát triển con người toàn diện’ trở thành khẩu hiệu chung của gia đình nhân loại. Chúng ta có thể khẳng định rằng bao lâu con người chưa ý thức được tầm quan trọng của đời sống thánh thiện, bấy lâu con người còn xa vời mục tiêu đó. Dưới nhãn quan của một số người, phát triển con người toàn diện được thực hiện chủ yếu dựa trên nồng độ tri thức, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Lịch sử nhân loại minh chứng rằng tri thức con người và những sản phẩm của nó có thể đem lại những hoa trái nhất định chứ không phải là yếu tố then chốt cho sự phát triển con người toàn diện.

Người ta kể lại rằng trong đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), có một viên tướng nói: “Nếu tôi có được mười người như Phan-xi-cô Át-xi-di, tôi có thể chinh phục cả thế giới này”. Chúng ta có thể nhận định: Với quãng đời binh nghiệp truân chuyên, viên tướng đó đã nghiệm ra sự thật rằng sức mạnh lý trí, ý chí và súng đạn không phải là giải pháp tối ưu để ‘bình thiên hạ’. Chỉ có sức mạnh thánh thiện, hy sinh, quên mình của những người như thánh Phan-xi-cô Át-xi-di mới có thể thực hiện được. Câu hỏi đặt ra là ‘vì sao vậy?’ Thưa, vì những người thánh thiện luôn ý thức rằng khi con người chỉ cậy dựa vào mình mà không màng quan tâm đến sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa, cũng là khi con người đi đường tăm tối và những hành động của con người không đem lại hạnh phúc thực sự cho mình cũng như anh chị em đồng loại. Các thánh là những người xây dựng đời sống cá nhân, cộng đoàn và gia đình nhân loại bằng những giá trị của Nước Thiên Chúa mà Đức Giê-su đã loan báo và thực thi, chứ không chỉ bằng lý trí, ý chí và những gì thuộc thế gian này.

Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận thức rằng sự thánh thiện biến đổi con người, biến đổi xã hội, biến đổi thế giới thụ tạo. Đức Giê-su là Đấng Thánh của Thiên Chúa, đã hiện diện trên trần gian, đã sống trọn thân phận con người, giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4,15; 1 Pr 2,22). Theo lẽ thường, đã thánh thiện thì không phải chịu đau khổ (là hậu quả tội lỗi), tuy nhiên, Đức Giê-su, Đấng Thánh của Thiên Chúa đã mang lấy tội lỗi của chúng ta, của toàn thể gia đình nhân loại để chúng ta được nên thánh. Nhờ Người, vực thẳm ngăn cách giữa Thiên Chúa thánh thiện và nhân loại tội lỗi được bắc cầu và tất cả mọi người trong gia đình nhân loại được mời gọi đi trên Chiếc Cầu này. Trong hành trình dương thế, Người đã thiết lập Giáo Hội để Giáo Hội tiếp tục chương trình của Người.

Là Ki-tô hữu nghĩa là môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su. Cuộc đời Ki-tô hữu chính là cuộc đời học hỏi và theo Đường Đức Giê-su, Đường Thánh Thiện. Tuy nhiên, trong khi theo Đường Thánh Thiện của Đức Giê-su, chúng ta không tránh khỏi những chông gai, cạm bẫy của thế giới bóng đêm và bao hình thức bấp bênh, bất cập khác vì sự yếu đuối của chính mình. Tự bản thân, chúng ta không thể nào vững vàng, kiên định trên Đường Thánh Thiện, nhưng nhờ Chúa Thánh Thần dẫn dắt, chúng ta sẽ vượt qua tất cả những thách đố và chướng ngại. Bao lâu con mắt đức tin của chúng ta còn dõi theo Đường Thánh Thiện của Đức Giê-su, bấy lâu chúng ta còn có cơ hội đạt tới sự thánh thiện như lòng Người mong muốn.

Hoa trái của sự thánh thiện gia tăng niềm tin, tình yêu và niềm hy vọng của chúng ta vào Thiên Chúa. Hoa trái của sự thánh thiện giúp chúng ta sống liên đới với anh chị em chúng ta. Hoa trái của sự thánh thiện tăng thêm sức mạnh để chúng ta có thể đương đầu với muôn thách đố trong cuộc sống. Đặc biệt, hoa trái của sự thánh thiện cho chúng ta sức mạnh để chống lại muôn hình thức cám dỗ của các thế lực sự dữ đang hoành hành trong thế giới thụ tạo. Tắt một lời, hoa trái của sự thánh thiện giúp chúng ta thực thi thánh ý Thiên Chúa trong tư tưởng, lời nói và hành động.

Chúng ta thường xem sự thánh thiện như là một ‘thực tại tĩnh’ hay ‘thực tại thường hằng bất biến’ nơi người nào đó. Thực ra, sự thánh thiện không thể hoàn thành tại một thời điểm nào đó trong đời sống chúng ta, trong lịch sử nhân loại hay trong lịch sử thế giới thụ tạo. Sự thánh thiện luôn là một hướng đi, một lộ trình, một dự án dang dở. Do đó, bao lâu con người còn hiện diện trên dương gian, bấy lâu con người còn phải không ngừng cố gắng sống đời thánh thiện. Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận thức rằng không ai thánh thiện đến mức không cần phải biến đổi, bởi vì, tất cả mọi người đều sống trong môi trường ô nhiễm vì Tội Nguyên Tổ và hậu quả của Tội này vẫn tiếp diễn cho đến tận thế.

Người thánh thiện có thể trở thành người tội lỗi và ngược lại. Biên giới giữa người thánh thiện và người tội lỗi mỏng manh như làn sương khói vậy. Tên trộm hoán cải trong biến cố Đức Giê-su chịu đóng đinh trên thập giá là ví dụ điển hình (Lc 23,39-43). Chúng ta có thể noi gương tên trộm về tinh thần hoán cải, chứ không phải là quá khứ trộm cắp. Đời sống của tên trộm không thể được xem là ‘mô hình chuẩn’ cho đời sống chúng ta, bởi vì, tương quan giữa chúng ta và Thiên Chúa là tương quan tình yêu và tình yêu luôn ở thì hiện tại. Không có tình yêu đích thật nào lại vắng bóng sự thánh thiện. Do đó, chúng ta không thể sống trong tình trạng tội lỗi và ăn năn hối cải vào phút chót như tên trộm để được tham dự sự sống, hạnh phúc và bình an vĩnh cửu của Nước Thiên Chúa mà không phải đau khổ, hy sinh, quên mình trong hành trình trần thế. Thông thường, cây nghiêng bên nào thì ngả bên đó. Đích đến của người sống đời thánh thiện và người sống đời tội lỗi khác nhau (Mt 25,31-46). Hơn nữa, trong Nhà Thiên Chúa có nhiều chỗ ở (Ga 14,2).

Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta nhận thức rằng ‘khoảng cách’ từ người thánh thiện đến người tội lỗi là ‘khoảng cách gần’, còn từ người tội lỗi đến người thánh thiện là ‘khoảng cách xa’. Bởi vì, sự thánh thiện của con người trong hành trình trần thế dễ bị tổn thương. Để có được sự thánh thiện, con người phải hy sinh, quên mình và cố gắng không ngừng, cho đến khi ‘nhắm mắt xuôi tay’. Chúng ta có thể dùng hình ảnh chiếc cầu để minh họa cho người đang sống thánh thiện có thể trở thành người tội lỗi. Để có chiếc cầu, người ta phải dày công vất vả hàng năm mới có thể hoàn thành được. Tuy nhiên, để phá chiếc cầu, người ta chỉ cần ít thuốc nổ là nó sẽ bị sập tan tành trong giây lát.

Chúng ta là những người tội lỗi, yếu đuối và giới hạn trăm chiều. Tuy nhiên, chúng ta được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa trong việc thánh hóa bản thân và thánh hóa những người khác nữa. Nếu chúng ta không cộng tác với Thiên Chúa để thánh hóa bản thân hay không ý thức và cố gắng để ngày càng được biến đổi hơn, làm sao chúng ta có thể cộng tác với Thiên Chúa để thánh hóa người khác được? Sẽ ngượng ngùng và giả hình biết bao khi chúng ta nói về Thiên Chúa, về Đức Giê-su, về Đường Thánh Thiện của Người mà chúng ta lại đắm chìm trong những tư tưởng, lời nói và hành động không chút âm hưởng hay hơi hướng nào của sự thánh thiện.

Sự thánh thiện không chỉ là chủ đề để chúng ta suy tư, học hỏi mà còn là ‘đường đi’ của chúng ta, là ‘lối sống’ của chúng ta và là ‘hành động’ của chúng ta trong hành trình trần thế này. Đời sống của người thánh thiện không phải là đời sống tách biệt khỏi những gì mà chúng ta gán nhãn ‘trần tục’, ‘sự đời’ hay ‘ngoại lai’ nhưng là đời sống phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của thế giới thụ tạo. Đường thánh thiện luôn là ‘đường hai chiều’. Đời sống của người thánh thiện là đời sống kết hiệp mật thiết với Đức Giê-su là Đường Thánh Thiện. Đồng thời, đời sống của người thánh thiện là đời sống liên đới với anh chị em mình để không ngừng biến đổi bản thân và môi trường sống sao cho môi trường đó ngày càng được thánh hóa, hầu tất cả mọi người sống xứng hợp hơn với phẩm giá của mình.

Chúng ta trở lại với khái niệm chung ‘thông thường, thánh thiện được hiểu như là tình trạng của thực thể được dành riêng cho mục đích tôn giáo hoặc tiến dâng cho Thiên Chúa’ để so sánh với sự thánh thiện theo mặc khải Ki-tô Giáo. Biến Cố Đức Giê-su trong hành trình trần thế cho chúng ta nhận thức rằng thánh thiện cần thiết cho ‘môi trường phàm tục’. Bởi vì, Đức Giê-su đã đi Đường Thánh Thiện để đến với nhân loại, đến với ‘môi trường phàm tục’. Chúng ta ý thức rằng nơi sự sống sung mãn cũng chính là nơi của sự thánh thiện tuyệt đối và nơi sự chết được hiểu là nơi vắng bóng sự thánh thiện. Thế mà, Đức Giê-su đã tới vực thẳm sự chết. Người đến chia sẻ sự thánh thiện của Người để con người được chung hưởng sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Sống đời Ki-tô hữu không gì khác hơn là sống đời thánh thiện theo khuôn mẫu Đức Giê-su. Chúng ta có thể nhận định rằng ‘người ngoại thánh thiện’ thì hơn ‘Ki-tô hữu tội lỗi’. Đối với các tôn giáo ngoài Ki-tô Giáo, chẳng hạn như Ấn Giáo, Phật Giáo, Công Đồng Vatican II nhấn mạnh: “Giáo Hội Công Giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó” (NA 2). Điều này không có nghĩa rằng các tôn giáo đều như nhau, cũng không có nghĩa rằng các tôn giáo là khác nhau. Sự nhìn nhận những điều tốt lành, thánh thiện nơi các tôn giáo không giảm thiểu sự cần thiết để loan báo Đức Giê-su là Đấng cứu độ duy nhất và Tin Mừng của Người dành cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Đức Giê-su đã đi Đường Thánh Thiện đến với gia đình nhân loại và người thiết lập Giáo Hội để Giáo Hội tiếp tục là dấu chỉ hay khí cụ của Người trong việc thánh hóa muôn dân (LG 1).

Như đã được đề cập ở trên, sự thánh thiện Ki-tô Giáo không chỉ được diễn tả trong các tương quan nội tại của đời sống cá nhân, tương quan với tha nhân, tương quan với Thiên Chúa mà còn được diễn tả trong tương quan với môi trường thế giới thụ tạo. Điều này có nghĩa rằng các tín hữu được mời gọi sống đời thánh thiện trong việc chăm sóc, quản lý và bảo vệ muôn vật muôn loài. Ai yêu mến Thiên Chúa, người đó cũng yêu mến những gì được Thiên Chúa dựng nên. Trong thư gửi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô viết: “Người [Thiên Chúa] cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: Thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô” (Ep 1,9-10). Sự thánh thiện Ki-tô Giáo mời gọi các tín hữu ‘mắt hướng về trời, chân tiến bước trên đất’. Điều này có nghĩa là sự thánh thiện không chỉ giới hạn trong việc tôn giáo hay văn hóa, xã hội mà còn lan tỏa đến muôn vật muôn loài. Chúng ta được mời gọi quan tâm và góp phần biến đổi môi trường thế giới thụ tạo bằng chính đời sống của mình.

Đức Giê-su nói: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Đức Giê-su là Thiên Chúa, là Đấng Thánh, tuy nhiên, Người không nói rằng ‘anh em hãy nên hoàn thiện như tôi đây là Đấng hoàn thiện’. Trong hành trình dương thế, Người không bao giờ qui hướng về mình, nhưng luôn qui hướng về Thiên Chúa Cha. Đức Giê-su cho chúng ta biết sự thánh thiện của con người trong hành trình trần thế luôn là sự thánh thiện có hướng, sự thánh thiện tiếp tục trên đường về với Quê Hương Vĩnh Cửu. Là Thiên Chúa trong thân phận con người, Đức Giê-su trở nên Đường Thánh Thiện cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại.

Từ những điểm trình bày trên đây, chúng ta có thể khái quát rằng sự thánh thiện thuộc về Thiên Chúa, Người là Đấng Thánh, là Nguồn Gốc và Đích Đến của các hình thức thánh thiện. Đức Giê-su đã đi Đường Thánh Thiện để đến với thế giới thụ tạo. Người vừa diễn tả sự thánh thiện của Thiên Chúa, vừa diễn tả sự thánh thiện của con người. Đặc biệt, sự thánh thiện của Người được diễn tả trong ba năm loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Người đã chịu nhiều đau khổ, chịu chết, sống lại và lên trời, tuy nhiên, trong Chúa Thánh Thần, Người vẫn luôn hiện diện trong gia đình nhân loại. Người đã thiết lập Giáo Hội để Giáo Hội tiếp tục Đường Thánh Thiện của Người bằng việc chia sẻ Lời Chúa, cử hành các bí tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể và thực thi bác ái. Tất cả mọi người được mời gọi suy niệm, học hỏi và thực hành Đường Thánh Thiện của Đức Giê-su trong hành trình trần thế của mình.

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên
Ủy ban Giới Trẻ và Thiếu Nhi / HĐGM VN

Các chủ đề học hỏi và suy niệm năm 2020:

Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 7 năm 2020

Các bạn trẻ thân mến,

Tháng Sáu vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Trái Tim. Tháng Bảy này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Mục Tử Nhân Lành. Hình ảnh mục tử và đoàn chiên là hình ảnh phổ biến diễn tả nội dung đức tin Ki-tô Giáo. Trong Cựu Ước, hình ảnh này chủ yếu diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và Dân Do-thái, Dân Riêng của Người. Trong Tân Ước, hình ảnh này diễn tả tương quan giữa Đức Giê-su và toàn thể mọi người trong gia đình nhân loại. Đây cũng là hình ảnh được sử dụng để diễn tả tương quan giữa các vị lãnh đạo trong Giáo Hội và những người mà các vị được ủy thác chăm sóc.

Hai bên tường các Hang Toại Đạo (Catacombs: Đất Thánh hay Nghĩa Trang dưới lòng đất) ở ngoại thành Rô-ma, được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ hai và thứ ba sau Chúa Giáng Sinh, người ta khắc vẽ nhiều hình ảnh, trong đó nổi bật nhất là hình ảnh Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành vác con chiên trên vai. Câu hỏi đặt ra là tại sao người ta lại khắc vẽ hình ảnh này? Thưa, bởi vì, đây là hình ảnh diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của Đức Giê-su cách đơn sơ và thân mật nhất. Các tín hữu luôn tin tưởng rằng Đức Giê-su đến trần gian để qui tụ và dẫn dắt đoàn chiên tản mát vì tội lỗi và sự chết về cho Thiên Chúa.

Sách Sáng Thế, cuốn sách đầu tiên của bộ Kinh Thánh, cho chúng ta biết rằng A-ben, Áp-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp là những người chăn chiên. Tất cả 12 con trai của Gia-cóp đều là những người chăn chiên. Còn Mô-sê, một người Do-thái, sau khi được vớt lên từ sông Nin đã sống ở cung điện nhà vua Ai-cập. Tuy nhiên, trong cơn nguy khốn, Mô-sê đã vào sa mạc và trở thành người chăn chiên. Đa-vít cũng vậy, là một người chăn chiên, được Thiên Chúa tuyển chọn để trở thành vị vua lừng lẫy nhất của dân tộc Do-thái. Việc dùng hình ảnh chủ chăn và đoàn chiên để diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và Dân Do-thái, được đề cập khá nhiều trong Cựu Ước, chẳng hạn như trong sách Dân Số, Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en, Thánh Vịnh, I-sai-a, A-mốt, Da-ca-ri-a.

Tương truyền rằng khi Mô-sê chăn chiên cho bố vợ (trước khi lãnh nhận sứ vụ dẫn dắt Dân Do-thái), thì một con chiên nhỏ tự mình tách khỏi đoàn. Mô-sê theo bước con chiên mà không hiểu lý do tại sao nó lại ra đi như vậy. Đến chỗ có khe nước nhỏ, con chiên dừng lại và uống nước. Mô-sê nói với con chiên một cách âu yếm: “Tao không biết mày khát nước, có lẽ mày rất mệt rồi?” Sau khi nói như vậy, Mô-sê vác con chiên lên vai và đưa về với đoàn chiên. Thiên Chúa nói với Mô-sê: “Vì con đã có hành động hào hiệp như vậy đối với con chiên nhỏ, con xứng đáng là người chăn dắt đoàn chiên của Ta.” Đó là lý do giải thích tại sao Mô-sê được Thiên Chúa tuyển chọn để dẫn dắt Dân Do-thái về Đất Hứa.

Liên hệ giữa người chăn chiên và đoàn chiên ở Pa-lét-tin thời Đức Giê-su khác biệt với nhiều nơi trên thế giới trong bối cảnh hiện tại, chẳng hạn như ở Mỹ, Canada, Anh, Australia, New Zealand. Ở những nước phát triển này, chiên được chăn thả mà không nhất thiết phải có ai bên cạnh. Người ta thường phân vùng cỏ cho đoàn chiên. Chẳng hạn, hôm nay, đoàn chiên ăn cỏ vùng này, ngày mai vùng khác. Ở Pa-lét-tin, người chăn chiên và đoàn chiên rất gần gũi với nhau, người chăn chiên luôn hiện diện với đoàn chiên, biết từng con chiên và đặt tên cho nó.

Trong miền Pa-lét-tin, đất đai cằn cỗi, đoàn chiên luôn cần sự dẫn dắt của người chăn để có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác, hầu có đủ thức ăn qua ngày. Hơn nữa, với nơi hoang mạc như vậy, nguồn nước luôn là thách đố lớn đối với người chăn chiên. Sự bảo đảm cho đoàn chiên có đủ thức ăn, nước uống luôn là vấn đề cấp thiết. Ngoài việc tìm kiếm thức ăn mỗi ngày, đoàn chiên phải đối diện với những hiểm nguy khác, chẳng hạn như sói dữ hay những người trộm cướp. Càng đối diện với nghịch cảnh thiếu thức ăn, nước uống, thú dữ hay những người trộm cướp, đoàn chiên càng lệ thuộc vào người chăn.

Hình ảnh người chăn chiên và đoàn chiên ăn sâu vào truyền thống, văn hóa và tôn giáo Do-thái. Khi diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và Dân Người, tác giả Thánh Vịnh 23 đã viết: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23,1). Chúng ta tóm lược một số ý tưởng chính yếu của Thánh Vịnh này như sau: Mục tử cung cấp đầy đủ nhu cầu cho đoàn chiên; mục tử cho đoàn chiên nghỉ ngơi; mục tử hướng dẫn đoàn chiên đi trên đường ngay nẻo chính; mục tử trang bị những gì cần thiết để bảo vệ đoàn chiên; mục tử an ủi đoàn chiên; mục tử bồi bổ sức sống đoàn chiên; mục tử ở lại với đoàn chiên luôn mãi. Những nhân vật lãnh đạo quan trọng trong lịch sử dân tộc Do-thái, đặc biệt Áp-ra-ham, Mô-sê và Đa-vít là những hình ảnh tiên báo về Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành.

Trong Biến Cố Giáng Sinh, những người đầu tiên đến với Đức Giê-su không phải là các chuyên gia Kinh Thánh, những bậc vị vọng trong dân tộc Do-thái hay những người quyền cao chức trọng của đế chế Rô-ma đang cai trị miền đất này, nhưng lại là những mục đồng (những mục tử nhí) đơn sơ hèn mọn. Họ đến với Đức Giê-su bằng cả tâm hồn. Không những thế, giữa đêm đông giá lạnh, đoàn chiên của các mục đồng đã sưởi ấm Đức Giê-su, Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se. Các mục đồng đơn sơ và những con chiên hiền lành rất vui mừng vì đã được tiếp xúc với Người Bạn Lớn là Mục Tử Nhân Lành trong hình hài trẻ thơ. Đức Giê-su có được kinh nghiệm đầu tiên trong đời mình về tương quan giữa người chăn chiên và đoàn chiên. Như vậy, những gì Kinh Thánh Cựu Ước nói về Đức Giê-su đã được ứng nghiệm từ thuở sơ sinh, chứ không phải đến khi Người loan báo Tin Mừng cách công khai.

Không chỉ các mục đồng và đoàn chiên đến với Đức Giê-su, trong Biến Cố Giáng Sinh còn có sự thăm viếng của các đạo sĩ từ phương xa nữa, họ là ‘dân ngoại’ (Mt 2,1-12). Các mục đồng, những người chăm sóc đoàn chiên, luôn sống trong cảnh ‘màn trời chiếu đất’. Họ có cơ hội ‘nhìn trời’ nhiều hơn những người khác và cảm nhận được sự kỳ vĩ của công trình Thiên Chúa sáng tạo với tâm hồn đơn sơ, chất phác của mình. Các đạo sĩ là những người học cao trông rộng, họ là các nhà chiêm tinh, những chuyên gia về bầu trời. Ngôi Sao Giáng Sinh xuất hiện ở Phương Đông, tuy nhiên nhiều người đã không nhận ra, bởi vì họ không có tâm hồn hướng về trời cao. Các đạo sĩ nhìn thấy Ngôi Sao Giáng Sinh xuất hiện lạ thường, phân biệt với các ngôi sao khác trên bầu trời. Các mục đồng và các đạo sĩ, những người ở gần và những người ở xa, những người ‘có đạo’ và những người ‘ngoại đạo’, những người hèn mọn và những người cao sang đại diện cho những nhóm người khác nhau trong xã hội, nhưng lại có cùng tâm thức. Họ rất khiêm tốn và luôn chuẩn bị tâm hồn cho những gì mới mẻ xuất hiện. Đó là l‎ý do giải thích tại sao trong Biến Cố Giáng Sinh, các mục đồng và các đạo sĩ vội vã ra đi, muốn càng sớm gặp gỡ Đức Giê-su càng tốt.

Kinh nghiệm lịch sử Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận thức rằng những người biết ngạc nhiên trước công trình kỳ vĩ của thế giới thụ tạo và gần gũi với thế giới thụ tạo, thì cảm nhận được sự hiện diện và hoạt động của Đấng Sáng Tạo. Những người biết ‘nhìn trời’ thì biết lắng nghe ‘‎ý trời’, thấu hiểu ‘ý trời’, đồng hóa ‘ý trời’ và hành động theo ‘ý trời’. Hình ảnh các mục đồng và các đạo sĩ cho chúng ta rút ra hệ luận rằng tâm hồn đơn sơ và l‎ý trí lành mạnh là điều kiện cần thiết để con người nhận ra chương trình của Thiên Chúa. Còn những kẻ lắm chữ như các kinh sư, thượng tế và nhiều quyền như Hê-rô-đê lại không có cơ hội gặp gỡ Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành, bởi vì tâm họ không lành và trí họ không sáng. Tâm trí họ không hướng về trời cao, nhưng chỉ hướng về lợi lộc trần gian và những gì bảo đảm cho thanh danh mình được người đời biết đến mà thôi.

Trong Tin Mừng Đức Giê-su theo thánh Gio-an (Ga 10,1-18), Đức Giê-su nói rằng Người là Mục Tử Nhân Lành để diễn tả sự khác biệt giữa Người và các vị lãnh đạo Do-thái, đặc biệt những người Pha-ri-sêu trong dấu lạ Người thực hiện để chữa người mù từ lúc mới sinh ở phần trước đó (Ga 9,1-41). Quả thật, các vị lãnh đạo Do-thái, nhất là những người Pha-ri-sêu không có tâm thức đối với dân chúng như Đức Giê-su. Họ là những ‘người lạ’. Đức Giê-su phân biệt giữa Mục Tử Nhân Lành và người lạ như sau: Mục Tử Nhân Lành luôn đi đường chính trực, người lạ đi đường gian trá; Mục Tử Nhân Lành quan tâm đến đoàn chiên, người lạ quan tâm đến mình; Đoàn chiên nhận ra tiếng Mục Tử Nhân Lành, không nhận ra tiếng người lạ; Mục Tử Nhân Lành qui tụ đoàn chiên, người lạ phân tán đoàn chiên; Mục Tử Nhân Lành bảo vệ đoàn chiên trước hiểm nguy, người lạ tìm đường tháo chạy; Mục Tử Nhân Lành thí mạng sống mình vì đoàn chiên, người lạ tìm cách bảo tồn mạng sống mình; Mục Tử Nhân Lành đưa đoàn chiên tới sự sống đời đời, người lạ tìm lợi ích cho mình trong sự sống đời này.

Đức Giê-su còn đề cập đến một số hình ảnh khác nữa, chẳng hạn như hình ảnh người chăn thuê hay hình ảnh người trộm cướp để so sánh với hình ảnh Mục Tử Nhân Lành. Theo đó, trái tim của người chăn thuê không chung nhịp với trái tim của đoàn chiên, trái tim của người trộm cướp luôn lạc nhịp với trái tim của đoàn chiên, trái tim Mục Tử Nhân Lành cùng chung nhịp đập với trái tim của đoàn chiên. Sự chung nhịp của Mục Tử Nhân Lành và đoàn chiên giúp từng con chiên cảm nhận được sự an bình thư thái ngay cả khi đối diện với muôn hình thức hiểm nguy. Mục Tử Nhân Lành không bỏ chạy trước sói dữ, không bỏ chạy trước những người trộm cướp, nhưng luôn sẵn sàng đương đầu với muôn thử thách, thậm chí hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên.

Tương quan giữa người chăn chiên và đoàn chiên rất thân mật, tuy nhiên, có sự khác biệt chính yếu: Bản tính của người chăn chiên khác với bản tính của đoàn chiên. Tương quan giữa Đức Giê-su và con người sâu đậm hơn nhiều, bởi vì Đức Giê-su mang lấy bản tính con người, giống con người mọi sự, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4,15). Hơn nữa, Người là Thiên Chúa, do đó, Người biết con người rõ ràng hơn người chăn chiên biết đoàn chiên mình. Người biết bản tính con người, biết những yếu đuối của con người, biết những lầm lỗi của con người, biết những đau khổ của con người, biết những tâm tư, nguyện vọng của con người, biết quá khứ, hiện tại và tương lai của con người.

Đức Giê-su nói: “Tôi chính là Mục Tử Nhân Lành. Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10,14). Động từ ‘biết’ trong bối cảnh Kinh Thánh nói chung và đặc biệt trong câu này không chỉ diễn tả chức năng của l‎ý trí, mà còn chức năng của trái tim. Đức Giê-su nói rằng Người là Mục Tử Nhân Lành, Người biết chiên của Người, có nghĩa rằng Người yêu thương đoàn chiên và yêu thương từng con chiên trong đoàn. Với Đức Giê-su, ‘biết’ đồng nghĩa với ‘yêu’, ‘biết’ đồng nghĩa với ‘chăm sóc’, ‘biết’ đồng nghĩa với ‘gắn kết’, ‘biết’ đồng nghĩa với ‘hy vọng’ những điều tốt nhất cho đoàn chiên, ‘biết’ đồng nghĩa với ‘giới thiệu’ chân trời mới cho đoàn chiên. Như vậy, động từ ‘biết’ mà Đức Giê-su dùng trong bối cảnh này thật phong phú và nhiều ý nghĩa hơn những gì chúng ta có thể cảm nhận.

Đức Giê-su không chỉ ‘biết’ đoàn chiên, Người còn hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Người nói: “Tôi chính là Mục Tử Nhân Lành. Mục Tử Nhân Lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). Cuộc đời dương thế của Đức Giê-su là cuộc đời hy sinh. Sự hy sinh của Người không cho một nhóm nào đó, mà cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Đây thật là sự hy sinh lớn lao nhất, bởi vì Người đã mang những thương tích và sự chết của tất cả mọi người mà đưa lên cây thập tự. Người đã chịu muôn vàn đau khổ, đã chết và sống lại vì tất cả mọi người (1 Pr 2,22-25).

Chúng ta biết rằng ít khi người chăn chiên chết vì đoàn chiên. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, vì xả thân bảo vệ đoàn chiên, vì sự sống của đoàn chiên, người chăn chiên phải chết và đoàn chiên tan tác. Trong khi sự chết của người chăn chiên dẫn tới vô số nguy hại cho đoàn chiên, nguy hại từ thú dữ, nguy hại từ những người trộm cướp, sự chết của Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành đem lại sự sống cho đoàn chiên. Đây là điều điên rồ trong nhãn quan của người trần mắt thịt, nhưng lại là ‘khôn ngoan’ của Thiên Chúa (1 Cr 1,17-31). Người chăn chiên chết, đoàn chiên cũng chết, đó là chuyện thường tình. Với Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành, Người chết để tiêu diệt sự chết và đem lại sự sống vĩnh cửu cho tất cả mọi người. Đó là l‎ý do tại sao Người nói rằng “tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

Tâm tình Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành là tâm tình yêu thương hết thảy mọi người. Thánh Mát-thêu trình thuật rằng: “Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36). Đặc biệt, Người quan tâm đến những người tội lỗi, những người sống xa đường ngay nẻo chính, những con chiên lạc. Người nói: “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,12-14). Đối với Đức Giê-su, tất cả mọi người từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế đều là những con chiên lạc, khác nhau chăng cũng chỉ ở mức độ thất lạc mà thôi. Bởi vì, tất cả mọi người đều là con cháu A-đam và E-và, những tội nhân, sống xa Đường Mục Tử Nhân Lành.

Trong hành trình ba năm rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su luôn diễn tả mình là Mục Tử Nhân Lành. Sau khi sống lại và hiện ra với các môn đệ ở Biển Hồ Ti-bê-ri-a, Đức Giê-su hỏi Phê-rô đến ba lần “con có yêu mến Thầy không?” Người lặp đi lặp lại câu hỏi để Phê-rô ý thức hơn tầm quan trọng của tình yêu trong việc chăm sóc đoàn chiên Người giao phó. Điều này có nghĩa rằng tình yêu dành cho Đức Giê-su đồng nghĩa với tình yêu đối với đoàn chiên Người ủy thác chăm sóc. Phê-rô đã trung thành với Đức Giê-su và thực thi chức năng mục tử theo khuôn mẫu Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành, trong quãng đời còn lại của mình. Đặc biệt, ngài đã chịu chết khi bị treo ngược trên cây thập giá để minh chứng cho tình yêu mà ngài lãnh nhận.

Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói” (Mt 10,16). Quả thực, đời sống và sứ mệnh của các môn đệ, của các tông đồ Đức Giê-su không phải là đời sống và sứ mệnh dễ dàng. Họ phải đương đầu với muôn vàn thử thách, gian truân để có thể trung tín với Thầy mình trong việc chăm sóc đoàn chiên được giao phó. Đa số các ngài đã chịu trăm bề thử thách và cuối cùng kết thúc với cái chết chứng tá của mình. Thánh Phao-lô nói với các kỳ mục tại Ê-phê-xô rằng “anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình” (Cv 20,28) và rằng “phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đoàn chiên” (Cv 20,29).

Trong bài chia sẻ ngày 28 tháng 3 năm 2013 tại Đền Thờ Thánh Phê-rô (Lễ Dầu), Đức Thánh Cha Phan-xi-cô nhấn mạnh rằng các linh mục, các mục tử là những người mang lấy mùi chiên và sống với mùi chiên. Ngài muốn các mục tử thực sự gần gũi đoàn chiên của mình, đồng hình đồng dạng với Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành và đồng hình đồng dạng với tất cả những người mà mình được ủy thác chăm sóc. Các mục tử được mời gọi vui với người vui, đau với người đau, khóc với người khóc. Các mục tử được mời gọi trút bỏ chính mình, ra khỏi chính mình và hy sinh chính mình để có thể hòa mình vào đời sống của tất cả mọi người, đồng hành với họ, hướng dẫn họ vững bước theo Đức Giê-su, Đường Mục Tử Nhân Lành.

Hình ảnh Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành được áp dụng cho những vị lãnh đạo trong Giáo Hội. Tuy nhiên, theo một nghĩa rộng hơn, tất cả Ki-tô hữu đều được mời gọi sống tinh thần Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta nhận thức rằng Đức Giê-su không chỉ mời gọi một số người trở thành mục tử, mà Người mời gọi tất cả chúng ta trở thành mục tử, sống tinh thần mục tử, bởi vì, mỗi người chúng ta thường vừa là ‘chiên’ trong hoàn cảnh này, vừa là ‘mục tử’ trong hoàn cảnh khác. Ai trong chúng ta cũng được giao phó tác vụ nào đó đối với anh chị em mình. Do vậy, chúng ta được mời gọi theo gương Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành trong khi thi hành tác vụ của mình, nhất là tác vụ loan báo Tin Mừng.

Đức Giê-su nói: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” (Ga 10,16). Như đã được đề cập ở trên, trong Biến Cố Giáng Sinh không chỉ có sự hiện diện của các mục đồng, mà còn có sự hiện diện của các đạo sĩ từ phương xa tới nữa. Các mục đồng đại diện cho những người Do-thái, các đạo sĩ đại diện cho ‘dân ngoại’. Họ không phải là ‘Dân Chúa’ theo cách hiểu của những người Do-thái. Tuy nhiên, họ trở thành Dân Chúa vì lòng Thiên Chúa xót thương. Sự hiện diện của họ cho chúng ta thấy rằng tất cả mọi người trong gia đình nhân loại đều được mời gọi trở thành Dân Chúa, trở thành thành viên của đoàn chiên duy nhất và Vị Mục Tử duy nhất là Đức Giê-su.

Chiên là loài vật đơn sơ, thiếu tính tự lập và luôn là mồi ngon cho nhiều loài thú. Chiên không có những ‘vũ khí’ cần thiết như sừng dài, răng nhọn, chạy nhanh hay bất cứ hình thức tự vệ nào. Chiên hoàn toàn lệ thuộc vào người chăn từ chuyện ăn uống, ngủ nghỉ đến chuyện bảo toàn mạng sống trước những hiểm nguy. Tương tự như thế, chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa, vào Đức Giê-su để hiện hữu, tồn tại, phát triển và hướng tới sự sống muôn đời. Trong hành trình trần thế, chúng ta phải đương đầu với muôn thử thách: Những thử thách trong đời sống thể chất, những thử thách trong đời sống tinh thần, đặc biệt, những thử thách trong đời sống tâm linh. Nếu chúng ta không có mối liên kết chặt chẽ với Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành, chúng ta sẽ không thể nào vượt qua được những thử thách này.

Đức Giê-su nói: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27). Sự phân định đâu là tiếng của Mục Tử Nhân Lành và đâu là tiếng của ‘người lạ’, ‘người trộm cướp’, ‘người chăn thuê’ ‘hay ‘thú dữ’ không phải là chuyện dễ dàng. Nếu chúng ta không có trái tim nhạy cảm, trái tim khiêm tốn, trái tim yêu thương, trái tim luôn mở ra với Trái Tim Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành, thì chúng ta khó có thể lắng nghe được tiếng Người. Chúng ta tin tưởng rằng Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành luôn cung cấp cho chúng ta đủ ánh sáng để bước đi đúng hướng trên hành trình trần thế này. Trong bài giảng về thời cánh chung, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Sẽ có những Ki-tô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điềm thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt cả những người đã được tuyển chọn” (Mt 24,24). Những lời này của Đức Giê-su không chỉ liên quan đến thời cánh chung theo nghĩa hẹp, mà còn liên quan đến tất cả Ki-tô hữu qua muôn thế hệ. Thực ra, sự hiện diện của Đức Giê-su trong hành trình trần thế cũng chính là sự hiện diện của thời cánh chung rồi. Chúng ta hãy hướng tâm trí về Đức Giê-su, Mục Tử Nhân Lành để được Người nuôi dưỡng đức tin và đời sống luân l‎ý phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.

Đề cập đến vị trí của người chăn chiên trong đoàn chiên để diễn tả tương quan giữa Người và chúng ta, Đức Giê-su nói rằng: “Anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh” (Ga 10,4). Câu hỏi đặt ra là ‘tại sao người chăn chiên phải đi trước?’ Thưa, vì người chăn chiên là người bảo vệ đoàn chiên, người chăn chiên đứng mũi chịu sào cho sự an toàn của đoàn chiên. Người chăn chiên chấp nhận những chướng ngại, những bất ngờ, những gian nan vì sự sống còn của đoàn chiên. Như người chăn chiên đi trước đoàn chiên, Đức Giê-su luôn đi trước chúng ta để dọn đường cho chúng ta. Đường Mục Tử Nhân Lành cũng là Đường của mỗi người chúng ta. Bằng không, chúng ta sẽ lạc đường, lạc lối trong hành trình trần thế này. Bổn phận của chúng ta là đặt trọn niềm tin, tình yêu và hi vọng vào Đường Mục Tử Nhân Lành và luôn trung tín với Đường này giữa những khó khăn bấp bênh của thời cuộc, cùng muôn cạm bẫy của thế giới bóng đêm luôn rình rập đợi chờ (Ep 4,26; 1 Pr 5,8).

Không ai trong chúng ta có đủ điều kiện cần thiết để hoạch định chương trình và đường hướng cho cuộc sống mình cách trọn vẹn. Tất cả chúng ta đều mong muốn có vị mục tử luôn trong tình trạng sẵn sàng giúp đỡ chúng ta. Vị đó chính là Đức Giê-su, Người hứa ở cùng các tông đồ, cùng Giáo Hội, cùng tất cả mọi người trong gia đình nhân loại cho đến tận thế. Do đó, câu hỏi đặt ra là ‘chúng ta đang đi đường nào?’ Nếu câu trả lời là chúng ta đang đi Đường Đức Giê-su, Đường Mục Tử Nhân Lành, thì rõ ràng chúng ta đang đi đúng hướng. Bằng không, chúng ta hãy trở về với chính lộ, trở về với Đường Mục Tử Nhân Lành, bởi vì đây là Đường duy nhất cho phép chúng ta sống xứng đáng với phẩm giá mình trong hành trình trần thế này và đây cũng là Đường duy nhất dẫn chúng ta tới sự sống dồi dào trong Nước Thiên Chúa.

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên
Ủy ban Giới Trẻ và Thiếu Nhi / HĐGM VN

Các chủ đề học hỏi và suy niệm năm 2020:

Tháng Sáu là tháng hướng về Thánh Tâm Chúa Giêsu. Tháng này nằm trong mùa Thường niên, được thể hiện bằng màu xanh lá cây trong phụng vụ. Biểu tượng của niềm hy vọng này là màu của hạt giống nảy mầm và khơi dậy trong tín hữu niềm hy vọng gặt hái trong mùa gặt của thiên đàng vĩnh cửu, đặc biệt là niềm hy vọng về sự sống lại vinh quang.

Ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha cho tháng Sáu năm 2020: Con đường của trái tim

Chúng ta cầu nguyện cho tất cả những người đau khổ có thể tìm thấy con đường trong cuộc sống, giúp họ chạm đến Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Điểm nổi bật của tháng Sáu

Trong sự nồng ấm của mùa Hè, chúng ta cử hành lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu (19-6) và lễ Trái Tim Vô nhiễm Đức Maria (20-6). Thiên Chúa là Tình yêu, và Thánh Tâm Chúa Giêsu – hiện diện trên trái đất nơi Bí tích Thánh Thể – là biểu hiện nhân tính về Tình yêu Thiên Chúa dành cho con người.

Cũng vào ngày 1-6, chúng ta cử hành lễ Đức Mẹ là Mẹ của Giáo hội. Lễ này được tổ chức hằng năm vào thứ Hai sau Lễ Hiện Xuống.

Các ngày lễ đặc biệt khác trong tháng này là các lễ kính: Thánh Antôn Padua (13-6), Sinh nhật Thánh Gioan Tẩy giả (24-6),  Thánh Phêrô và Thánh Phaolô (29-6) và các Thánh tử đạo đầu tiên của Giáo hội Rôma (30-6).

Thời gian của tình yêu

Sau ngày lễ Ngũ tuần, Giáo hội bắt đầu từ đỉnh cao tuyệt vời của Mùa Phục Sinh để đi xuống những đồng cỏ xanh tươi của Mùa Thường Niên, dài nhất trong các mùa phụng vụ. Giống như sự tăng trưởng của tháng Sáu tươi tốt xung quanh chúng ta, màu xanh của mùa phụng vụ cho thấy ơn Cứu Độ Chúa Giêsu Kitô mang lại cho chúng ta cuộc sống mới, cuộc sống của Tình Thương. Chúa chúng ta đã đến để thắp lên ngọn lửa tình yêu của Ngài trên trái đất, và cuối cùng, đã gửi Thánh Thần của Ngài vào ngày lễ Ngũ tuần dưới hình thức lưỡi lửa.

Tháng Sáu mang ngọn lửa Thánh Thần, lửa đỏ yêu thương của Trái Tim Chúa Giêsu, nhưng lại nằm trong màu xanh của Mùa Thường niên, giống như khi xưa ông Môsê trông thấy lửa cháy trong bụi gai mà bụi gai vẫn nguyên vẹn, không bị thiêu rụi. Tình yêu bốc lửa của Trái Tim Chúa Giêsu cứ làm cho cuộc đời xanh tươi thêm mãi.

Với ngọn lửa Thánh Thần, mùa Thường Niên là lúc đi ra khắp thế giới và loan báo Tin Mừng. Các ngày lễ của tháng Sáu làm nổi bật lên sự phát triển này của Giáo hội. Ít nhất mười lần trong tháng, Giáo hội khoác lên mình màu đỏ của các vị tử đạo với máu đổ ra là hạt giống của sự trưởng thành.

Chúng ta cũng được mời gọi làm chứng nhân như các tông đồ và các vị tử đạo. Xin Trái Tim của Chúa Giêsu thổi bùng lên ngọn lửa trong trái tim của chúng con để chúng con có thể xứng đáng với Ơn gọi phát xuất từ Bí tích Rửa tội. Xin Trái tim vô nhiễm nguyên tội Mẹ Maria cầu cho chúng con.

Nguồn: TGP Sài Gòn
Sách Nhịp Sống Tin Mừng T06/2020