Câu chuyện chúng ta vừa nghe là một trong những câu chuyện hay nhất ở trong Tin Mừng. Hay không phải ở bối cảnh cũng không phải hay ở trong tình tiết mà là ở chỗ nó có một ý nghĩa đặc biệt, nó gói ghém một sứ điệp Chúa muốn gửi đến cho mỗi người chúng ta.

1/ Như anh chị em đã biết ngay sáng ngày thứ nhất trong tuần, Tin Mừng Phục sinh đã được loan báo cho nhóm 11 và một số người khác trong đó có cả hai môn đệ được Tin Mừng hôm nay nhắc tới – thì ngay chiều hôm đó hai ông này đã rời bỏ Jêrusalem để đi về Emmau một địa danh cách Jêrusalem khoảng chừng 11 cây số.

Tin Mừng không cho chúng ta biết lý do tại sao họ lại bỏ Jêrusalem vào lúc sự việc còn tranh tối tranh sáng như thế. Cứ theo những lời họ nói thì ta phải kết luận là họ thất vọng. Hoàn toàn thất vọng. Họ muốn bỏ cuộc. Bây giờ thì họ đang ở trên đường con đường, với một tâm hồn nặng trĩu một nỗi u buồn và những bước chân thật nặng nề và chậm chạp. Cha Thành Tâm gọi là “lê bước chân buồn đường dài”.

Họ vừa đi vừa nói chuyện với nhau. Những chuyện họ nói cũng chẳng có gì là hào hứng. Toàn là một màu ảm đạm và u buồn.

Rồi khi Chúa hiện ra nhập bọn cùng đi với họ…sự việc đó cũng chẳng làm cho họ thay đổi gì. Khi Chúa hỏi họ: “Các bạn có chuyện gì vừa đi vừa đàm đạo với nhau mà buồn thế… ?” thì họ sẵn sàng bộc lộ tất cả những gì họ đang nghĩ “Sự việc liên can đến Ông Giêsu thành Nazareth..”.. Họ kể cho người khách lạ khá rõ và khá chi tiết về ý nghĩ của họ đối với Ngài và về những sự việc có liên quan đến Ngài mới xảy ra. Họ cũng chẳng sợ hãi mà dấu diếm cả những mong đợi thầm kín nhất mà họ đã đặt ở nơi Ngài: “Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Ngài sẽ cứu Israel” (Lc 24,21) và bây giờ thì chấm dứt tất cả. Trước kia họ có hy vọng. Bây giờ thì không…thậm chí có thể còn là thất vọng. Cái chết của Đấng mà họ đặt niềm hy vọng giờ thì đã làm thay đổi tất cả. Ánh sáng mới loé ra bây giờ đã vụt tắt. Hy vọng mới ló dạng giờ đây đã tiêu tan và trước mắt chẳng có gì sáng sủa. Tương lai lại trở về với mù tối, u buồn và chán nản. Kiếp sống nô lệ tủi nhục chưa tìm được lối ra. Tất cả những gì mà người ta đồn về Ngài chẳng có gì đáng tin….Thế là hết . Đổ vỡ tất cả. Tan tành tất cả.

2/ Đứng trước thái độ thất vọng như thế, Chúa xử trí ra sao ?

Lúc đầu xem ra có vẻ Chúa hơi buồn: “Ôi những người khờ dại sao mà chậm tin những điều các tin tiên tri đã nói như thế ?”. Lúc sinh thời cũng đã có lần Chúa phàn nàn về sự chậm tin của các Tông đồ như vậy. Thế nhưng đó chỉ là những phản ứng rất chóng qua.

– Sau đó Chúa kiên nhẫn giúp các ông tìm lại niềm tin của mình. Thánh Luca đã cho chúng ta một chi tiết rất nhỏ nhưng khá thú vị. Đó là Chúa “bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri giải thích cho các ông tất cả các lời Thánh Kinh ám chỉ về Ngài” (Lc 24,27). Luca bảo Chúa dùng “Tất cả những lời Kinh Thánh có liên hệ đến Ngài … để giải thích cho hai môn đệ mà Ngài gọi là chậm tin. Chúa không hề nhắc tới bất cứ một chứng cớ nào vừa mới xảy ra. Chúa chỉ dùng Thánh kinh. Đó là công việc Chúa làm cho hai môn đệ đang lúc đi đường.

Sau đó Chúa còn dùng thêm một gợi ý khác và chính nhờ công việc này mà hai môn đệ đã nhận ra Thầy chí Thánh của mình dễ dàng hơn. Tin Mừng kể sau khi cả ba đã vào quán trọ, trong khi bẻ bánh, Chúa đã làm lại một cử chỉ mà trước đó Chúa đã làm trong những giờ phút cảm động nhất cuối cuộc đời của Ngài. “Ngài cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai Ông”.(Lc 24,30)..y như Chúa đã trao cho các Tông đồ trong bữa tiệc ly lúc Chúa lập Bí tích yêu thương. Và như Tin Mừng ghi lại “Lập tức hai Ông nhận ra Chúa. Nhưng ngay sau đó thì Chúa biến đi”. (Lc 24,31)

Dù Chúa đã biến đi, nhưng chúng ta thấy hai môn đệ đã tỏ ra hết sức vui mừng. Và ngay trong đêm tối các ông đã hối hả gấp rút trở về Jêrusalem để báo tin vui cho các tông đồ. Thật là một niềm vui không thể không chia sẻ với người khác. Tin Mừng không cho chúng ta biết gì về cuộc sống của hai môn đệ sau đó. Nhưng chúng ta có quyền mà nói rằng chắc chắn họ sẽ nhìn cuộc sống với một cặp mắt khác hơn…không u ám xám xịt như trước, không còn thất vọng như trước nhưng tràn đầy niềm tin, ngập tràn hy vọng. Vì cuộc sống đã có Chúa.

3/ Nói tới đây tự nhiên tôi nhớ đến một câu chuyện rất hay mà mỗi khi đọc bài Tin Mừng này người ta hay nhắc đến. Chuyện kể rằng có một người thanh niên kia phải thực hiện một chuyến đi dài. Trong chuyến đi này có lúc anh phải đi ngang qua rất nhiều nơi. Một ngày kia anh phải băng qua một bãi biển có nhiều nguy hiểm. Dầu vậy anh cũng rất an tâm vì Chúa hứa cùng đi với anh. Tuy Chúa không hiện hình như một người bình thường anh vẫn có thể nhận ra Ngài qua những dấu chân được in trên cát. Hai dấu chân của anh và hai dấu chân của Chúa. Nhưng rồi tới một đoạn đường nọ anh gặp một cơn thử thách rất nặng nề. Nhìn xuống anh chỉ thấy có hai bàn chân in trên cát. Dầu sao thì anh vẫn dồn hết sức can đảm để tiến lên. Khi cơn thử thách đã qua, nhìn xuống anh lại thấy đủ bốn dấu chân in trên cát như trước. Anh có vẻ hơi buồn với Chúa cho nên anh đánh bạo hỏi Ngài:

“Thưa Thầy, lúc đó Thấy ở đâu ? Sao lại để con đi có một mình ?”

Chúa nhỏ nhẹ nói với anh: “Con hãy quay lại nhìn kỹ xem…đó là vết chân của ai ?”

Nhìn kỹ lại thì anh thì thấy đó không phải là vết chân của mình mà là vết chân của Chúa.

Thắc mắc anh hỏi Chúa: “Vậy lạy Thầy, lúc đó con ở đâu ?”

Chúa nhìn anh với cặp mắt đầy lòng yêu thương và trả lời: “Con ạ. Lúc con gặp khó khăn. Thầy biết con không đủ sức chịu đựng. Vì thế Thầy đã cõng con trên lưng của Thầy”

Câu chuyện phát xuất từ nước Brazil tận Nam Mỹ nhưng nội dung của nó cũng thật gần gũi với chúng ta.

Hai câu chuyện: một là câu chuyện hai môn đệ đi làng Emmau và hai là câu chuyện của một chàng thanh niên. Hoàn cảnh, không gian, thời gian tuy có khác nhau nhưng ý nghĩa của nó sao mà giống nhau quá.

Đời sống mãi mãi là cuộc hành hương. Trên con đường hành hương ấy chẳng thiếu gì những khó khăn, nhiều khi còn có cả ngã quỵ và đổ vỡ. Đừng tìm cách lẩn trốn những khó khăn. Cũng đừng quá quan trọng hóa những ngã quỵ và đổ vỡ. Cuộc đời làm sao tránh được những thất bại, làm sao tránh được những khổ đau, làm sao tránh được những lúc buồn lòng. Điều cần là tin vào Chúa. Không phải một Thiên Chúa xa vời chẳng ăn nhằm gì tới cuộc sống mà là một Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng ta trong những bước đi của cuộc sống làm người. Không phải vô tình mà khi cắt nghĩa cho hai môn đệ đi đàng Emmau, Chúa đã dùng Kinh Thánh và dấu chỉ Bí tích Thánh thể để giúp họ nhận ra Chúa. Qua câu chuyện hai môn đệ đi đàng Emmau Chúa cũng muốn nói với mỗi người chúng ta rằng: Chúa cũng đang ở thật gần chúng ta. Vô hình vô tượng nhưng đầy tình thương. Ngài luôn đồng hành với chúng ta. Hãy tin tưởng ở Ngài và hãy can đảm bước đi những bước vững vàng và thanh thản trên con đường phục vụ để làm nên ý nghĩa cao cả cho cuộc đời và xứng đáng là môn đệ của Chúa Phục Sinh. Amen.

Chúng con thiếu nhi yêu quí,

Chúng ta vừa được nghe một bài Tin Mừng thật hay, thật đẹp.

Cha đố chúng con bài Tin Mừng hôm nay nói về câu chuyện gì ?

– Câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmaus.

– Hai môn đệ này là ai vậy chúng con ?

– Có lẽ là hai người trong nhóm 72 môn đệ của Chúa.

– Họ có thuộc nhóm các tông đồ không ?

– Dạ thưa không. Họ không phải là tông đồ, nhưng chỉ là những môn đệ yêu mến và đi theo Chúa Giêsu.

Bây giờ cha có hai câu hỏi cha muốn hỏi các con.

I. Câu Hỏi Thứ Nhất: Tại sao Chúa Giêsu hiện ra đi ngay bên cạnh mà họ không nhận ra Chúa.

Chúng con thấy sau khi Chúa sống lại thì việc nhận ra Chúa không dễ dàng.

Lúc đầu, khi Chúa hiện ra với Maria Mađalêna, chúng con thấy Maria thấy Chúa ngay không ? Thưa không. Vậy Maria tưởng mình thấy ai ? – Maria tưởng Chúa là người giữ vườn. Mãi cho tới khi Chúa lên tiếng gọi, lúc đó Maria mới nhận ra Chúa.

Còn các tông đồ thì sao ? Mặc dù đã được Maria báo trước, thế nhưng khi Chúa hiện ra, cảm tưởng đầu tiên của các tông là tưởng mình thấy “Ma”. Mãi cho đến khi Chúa cho các ông ấy được nhìn xem, được sờ vào Chúa rồi Chúa ăn uống ngay trước mặt, lúc đó các ông ấy mới tin.

Hôm nay chúng con thấy….Hai môn đệ đang buồn bã cùng nhau đi trên đường…vừa đi vừa chuyện trò về câu chuyện đau thương họ mới chứng kiến…Đang lúc đó thì Chúa hiện ra cùng đi với họ…Lúc đầu họ đâu có nhận ra Chúa…Phải đợi mãi cho tới khi Chúa dùng toàn bộ Kinh Thánh và các tiên tri để giải thích, họ mới cảm thấy lòng của họ “Nóng lên”…mãi cho tới khi Chúa vào quán trọ rồi bằng một cử chỉ thật quen thuộc, Chúa cầm bánh trao cho họ y như việc Chúa làm trước đó…lúc đó họ mới nhận ra Chúa.

Cha hỏi chúng con ? Tại sao lại như thế ? Tại sao họ đã không nhận ra Chúa ngay mà phải đợi đến lúc Chúa làm lại những việc quen thuộc Chúa đã làm thì lúc đó họ mới nhận ra Chúa ?

Đây chúng con hãy nghe Sách Giáo Lý mới trả lời: “Đức Kitô đã phục sinh với thân xác riêng của Người: Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! (Lc 24,39); nhưng Người không trở lại với đời sống trần thế. Cũng vậy, trong Người, “tất cả mọi người sẽ sống lại với thân xác riêng của mình, thân xác hiện giờ họ đang mang”, nhưng thân xác này “sẽ được biến đổi thành thân xác của sự vinh quang”, thành “thân thể có thần khí” (1Cr 15,44)(999): Sự “phục sinh” đó, vượt quá trí tưởng tượng và sự hiểu biết của chúng ta; điều đó chỉ có thể đạt tới bằng đức tin.(1000)

Chúng ta chỉ có thể đạt tới niềm Phục sinh bằng đức tin.

Cha kể cho chúng con câu chuyện này:

Một người Nga nọ sau khi đã mãn hạn tù đã kể lại tâm trạng của mình:

Dáng vẻ bên ngoài của tôi xấu xí đến độ không ai muốn đến gần tôi. Trong thời gian lao động cải tạo, thay vì làm việc chung với các trại viên khác, tôi bị giam mình xuống đáy hầm. Tình cờ một tai nạn xảy ra khiến lưng tôi bị gù.

Một ngày kia, có một cậu bé nhìn tôi thật lâu rồi hỏi tôi một cách ngây thơ:

– Chú ơi, chú mang cái gì trên lưng thế ?

Tôi đã nghĩ rằng cậu bé có ý chế nhạo tôi, biết thế nhưng tôi vẫn bình tĩnh trả lời:

– Cục bướu đấy cháu ạ.

Tôi chờ đợi cậu bé sẽ tiếp tục trò chơi gian ác của cậu. Nhưng không, cậu bé nhìn tôi một cách trìu mến rồi nói:

– Không phải thế đâu chú ạ. Chúa là tình yêu. Ngài không cho ai hình thù kỳ dị cả. Không phải chú có cục bướu đâu, chính chú đang mang trên lưng cái hộp đó. Trong cái hộp đó có đôi cánh của thiên thần, và một lúc nào đó đôi cánh sẽ mở ra và chú sẽ bay lên trời với đôi cánh đó.

Ý nghĩ ngộ nghĩnh của chú bé đã làm tôi sung sướng đến độ khóc thành tiếng.

Ôi sung sướng quá! Đúng là một vị thánh. Thánh nhân đã giúp tôi nhìn thấy Thiên Chúa cả trong những nơi bất hạnh, nhìn thấy sự may mắn ngay cả trong những mất mát thua thiệt, và nhất là biết nhìn thấy Chúa trong những người không ai muốn nhìn đến.

2. Câu Hỏi Thứ Hai: Chúa Đã Làm Gì Để Giúp Con Người Nhận Ra Chúa Sau Khi Chúa Phục Sinh ?

Chúng con thấy việc nhận ra Chúa sau khi Chúa Phục sinh không phải là việc dễ dàng chính vì thế mà Chúa đã có cách giúp con người nhận ra Ngài. Cha đố chúng con trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa đã dùng cách nào ?

Trước hết cha thấy Chúa đã sử dụng Kinh Thánh. Lý do vì Kinh Thánh là kho tàng Mạc Khải cho chúng ta về Chúa. Chúng con thấy, đứng trước hai người môn đệ đang buồn bã thất vọng, Chúa Giêsu đã không hề nhắc đến một việc nào có liên quan đến cái chết của Chúa mà Chúa đã dùng Kinh Thánh để giúp hai môn đệ tìm lại được niềm tin của mình. Đây là lời họ thú nhận với nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” (Lc 24,32).

Rồi Chúa còn làm gì nữa chúng con ?

Chúa còn lập lại một việc trước đó không lâu Chúa đã làm khi lập Bí tích Thánh thể. Tin Mừng ghi “Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ” (Lc 24,30). Và kết quả như thế nào thì chúng con đã biết: “Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất” (Lc 24,31).

Như vậy chúng ta có thể hiểu: Thánh Kinh và Thánh Thể là hai phương thế Chúa muốn cho chúng ta dùng để có thể gặp được Chúa.

Loew là một phu khuân vác ở bến tàu. Anh là đảng viên của đảng Lao động Thụy Sĩ. Bỗng một hôm Loew nảy ra ý định thử đi tìm hiểu điều mà người Công Giáo hằng tin tưởng, có một Thiên Chúa thật không ?

Anh đến một dòng khổ tu và nói thật ý định của mình với cha bề trên. Cha không nói với anh điều gì ngoài những lời:

– Anh đã đi đúng đường rồi đó. Anh hãy tiếp tục đi đi, hãy coi tu viện này là nhà của anh.

Rồi cha bề trên giơ tay chỉ nhà nguyện, nói:

– Đây là nhà nguyện đang dâng lễ.

Loew vào, anh quì xuống như bao kẻ khác. Rồi anh cứ quì mãi trong khi những người khác đã thay đổi thế quì, thế đứng, thế ngồi. Đến lúc đã mỏi gối. Loew ngồi lên thì mọi người lại quì xuống vì lúc đó là lúc dâng Mình Máu Thánh Chúa.

Rồi đến khi rước lễ, mọi người lên rước lễ, chỉ mình Loew ngồi đó, thật chẳng giống ai, Loew nghĩ thầm.

Nhìn những người rước lễ đi xuống, Loew nhận ra những khuôn mặt: học thức, địa vị, bình dân… Loew tự hỏi: sao những kẻ này mê tín, dị đoan quá thế ? Ăn miếng bánh nhỏ bằng đồng xu thế kia để làm gì, họ có điên không nhỉ ?

Nhưng ý tưởng trên của Loew đã bị một tư tưởng khác tấn công: không lẽ những người có học thức, có địa vị xã hội hơn tôi mà họ lại điên, còn tôi thì ngược lại, khôn hơn sao ? Hay là tôi điên ?

Thế rồi, Loew tìm hiểu phép Thánh Thể với cha bề trên. Thời gian sau, Loew tâm sự:

“Bây giờ, tôi có thể nói như hai môn đệ Emmaus: “Tôi nhận ra Ngài, lúc Ngài bẻ bánh”. Chính lúc bẻ bánh chúng ta mới nhận ra chúng ta là anh chị em trong Đức Kitô. Có những người mà trước đó gặp ngoài đường, chúng ta dửng dưng như người xa lạ, nhưng trên bàn tiệc thánh, chúng ta thấy gần gũi với nhau. Tôi gặp Chúa Kitô nơi họ, cũng như họ gặp Chúa Kitô nơi tôi. Bởi chúng tôi cùng tin Phúc Âm, cùng lãnh nhận một của ăn là Mình và Máu Thánh Chúa Kitô”.

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật lại hai cuộc hiện ra của Đức Giêsu phục sinh với các tông đồ của Ngài. Hai cuộc hiện ra này cách nhau 8 ngày :

Trong lần hiện ra thứ nhất, Đức Giêsu cho các ông xem thấy tay chân và cạnh sườn, thấy những vết thương Ngài đã chịu trong cuộc chịu nạn. Qua những dấu chứng đó, các tông đồ đã nhận ra Chúa. Các ngài rất vui mừng. Chúa Giêsu đã chúc bình an cho các ngài, sự bình an mà các ngài đã làm mất khi chứng kiến cuộc khổ nạn và nhất là cái chết của Chúa trên Thập Giá. Rồi ngay sau đó Chúa đã ban Thánh Thần và sai các ngài đi (nhưng chưa nói là đi đâu và đi để làm gì).

Lần hiện ra này, có đông đủ các tông đồ nhưng không có mặt của Tôma. Tin Mừng không cho chúng ta biết lý do tại sao ông Tôma không có mặt cùng với anh em của mình khi Chúa hiện ra như thế.

– 8 ngày sau, Đức Giêsu lại hiện ra lần thứ hai. Lần này Tôma cũng có mặt. Chúng ta không thể tưởng tượng được niềm vui của các tông đồ lớn như thế nào. Khi Chúa Giêsu hướng cái nhìn của Chúa về phía Tôma thì, mọi cặp mắt của các tông đồ cũng đều hướng về đó. Các ngài sốt ruột chờ đợi. Một sự “Sự phán xét” của Chúa chăng?. Làm sao mà các tông đồ quên được thái độ khép lòng và hoàn toàn không tin của Tôma. Thế nhưng Chúa đã làm gì? Không một lời khiển trách nặng lời.

Dường như Chúa đã chào thua khi bảo Tôma hãy đưa tay ra mà chạm trực tiếp vào các vết thương của Chúa. Trước thái độ quá bất ngờ ấy, Tôma chỉ còn cách nói lên niềm tin của mình bằng những lời tuyên xưng thật đẹp. Đây mới là lời tuyên xưng mà Chúa chờ đợi từ bao nhiêu năm nay: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,29). Với lời tuyên xưng này, Tôma đã vươn tới tầm cao mới của đức tin: tin mà không cần thấy.

Như thế qua đoạn Tin Mừng hôm nay chúng ta thấy có hai mức độ tin: mức độ thấp là tin vì thấy, nghĩa là tin dựa vào bằng chứng; mức độ cao hơn: tin mà không cần thấy, nghĩa là tin không dựa trên bằng chứng mà dựa trên tình yêu.

Theo Đức Giêsu thì mức độ thứ hai là cao hơn. Ngài kêu gọi chúng ta – qua lời nói với Tôma – hãy cố vươn lên mức độ cao ấy : “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy nên con tin. Nhưng phúc cho kẻ nào không thấy mà tin” (Ga 20,28).

Miguel de Unamuno viết: “Tôi tin vào Thiên Chúa như tin vào một người bạn, vì tôi cảm nhận được hơi thở tình yêu của Người, cảm nhận được bàn tay vô hình và khả giác của Người tác động đến tôi”.

Nhà sinh vật học Jean Henry Fabre sau 87 năm khảo sát và suy tư đã phải thốt lên: “Tôi không thể nói rằng tôi tin vào Thiên Chúa, mà là tôi trông thấy Người. Thấy Chúa là Cha rất nhân từ hằng yêu thương chăm sóc con người, và thấy mọi người là anh em với nhau”. Cha Michel Quoist có viết: “Tin Chúa, không phải là hướng mắt về Ngài để chiêm ngưỡng, nhưng đồng thời cũng là nhìn vào trần gian với ánh mắt của Đức Kitô”.

Cách đây không lâu, trên chương trình truyền hình Public Eye có trình chiếu một vụ xử án rất cảm động. Số là cách đây 19 năm, một tài xế xe truck say rượu đã gây ra tai nạn và làm cho em bé tên Joseph V. mới được một tuổi phải mang thương tật suốt đời.

Suốt 19 năm qua, bé Joe, tên “cúng cơm” của Joseph V, nay là một thanh niên 20 tuổi, đã phải sống trong cay đắng tủi hờn. Đi đâu cũng bị kinh tởm ruồng rẫy. Gia đình cũng đã phải chia sẻ nỗi đau khổ không kém.

Mới đây, người tài xế, sau thời gian dài lẩn trốn, đã bị bắt lại và đem ra xét xử. Tại toà, trước khi vị chánh án buộc tội, các nạn nhân và những người liên hệ được phép tiến lên phát biểu cảm tưởng, trong đó có anh Joe. Nhiều tâm tư – căm thù, uất hận, thương cảm – đã được phát biểu, nhưng có ba tâm tư đã làm cho tôi khó quên.

Người bố của anh Joe tiến lên trước toà và nói: “Trong suốt 19 năm qua, tôi không biết nên cầu cho con tôi sống hay xin cho nó chết. Cầu cho sống thì quả là đau khổ cho nó quá, bởi vì sau khi tai nạn xảy ra hai cánh tay con tôi bị cắt cụt, chỉ có khúc xương và cục thịt lủng lẳng ở hai đầu cánh tay. Gương mặt bị phỏng nặng và biến dạng. Môi cũng như mí mắt không còn nữa. Da thì chảy ra nên không còn hình thù của một gương mặt con người, đến nỗi các đứa bé khác khi nhìn vào thì tưởng là nó đeo mặt nạ. Bước đến đâu con tôi cũng bị kinh tởm hất hủi. Cho nên tôi không biết có nên cầu cho nó sống không. Còn cầu cho chết thì tôi không thể, vì tôi là người tin Chúa, nên tôi không thể cầu cho ai chết được hết”.

Đến phiên người mẹ của Joe bước lên trước máy vi âm. Bà nói: “Trong suốt 19 năm qua tôi đã phải đau cái nỗi đau của con tôi. Ví dụ lúc được 5 tuổi Joe hỏi tôi: “Mẹ ơi khi nào thì các ngón tay của con không mọc ra hả mẹ?” Hay lúc được 8 tuổi, bé đã thắc mắc: “Mẹ ơi, sao da của con không được trơn như của mẹ hay của mấy em vậy?’” Người mẹ vừa thổn thức vừa nói tiếp: “Tôi không biết phải trả lời thế nào chỉ biết ôm lấy con tôi mà khóc, mà thương nó thôi.”

Cuối cùng anh Joe cũng tiến lên để nói những lời có tính cách quyết định cho bản án. Anh hướng về phía người tài xế và nhẹ nhàng nói: “Thưa ông, nếu không có đức tin thì có lẽ tôi đã kết thúc đời mình từ lâu rồi. Đời tôi sẽ bị kết thúc bởi sự chối từ kinh tởm của người khác, hoặc khi tôi chợt nhìn vào trong gương và thấy được nét mặt kinh khủng của mình. Nhưng tôi không muốn hủy diệt đời mình trong sự thù hận ghen ghét. Tôi không thù ông, không giận ông và cũng không kết án ông. Tôi chỉ xin nói với ông một điều cuối cùng này: bất cứ chuyện gì có xảy đến thì cũng hãy biết rằng ơn phúc của Thượng đế vẫn hằng tràn đầy trên chúng ta, vì Ngài yêu thương chúng ta.”

 

Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
Chúa đã sống đến cùng cuộc Vượt qua của Chúa,
xin cho con biết sống cuộc Vượt qua mỗi ngày của con,

Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ.
Vượt qua những đam mê đang kéo ghì con xuống.
Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã.
Vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu.
Vượt qua những khắc khoải của niềm tin.
Vượt qua những thành kiến con có về người khác…

Chính vì Chúa đã phục sinh
nên con vui sướng và can đảm vượt qua,
dù phải chịu mất mát và thua thiệt.

Ước gì con biết noi gương Chúa phục sinh
gieo rắc khắp nơi bình an và hy vọng,
tin tưởng và niềm vui.
Ước gì ai gặp con
cũng gặp thấy sự sống mãnh liệt của Chúa.

Thiếu nhi chúng con yêu quí,

Cha đố chúng con hôm nay là lễ gì ?

– …

– Lễ hôm nay rất mới, chỉ có sau này vào thời Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II thôi.

Hôm nay là lễ kính Lòng Thương Xót Của Chúa.

Chúng con vừa được nghe một bài Tin Mừng tường thuật lại việc Chúa Phục Sinh hiện ra với các môn đệ của Chúa.

Cha hỏi chúng con theo bài Tin Mừng hôm nay thì Chúa hiện ra mấy lần nào ?

– Thưa cha hai lần.

– Chúng con có thấy giữa hai lần đó có điều gì khác nhau không ?

– Dạ thưa có. Lần đầu không có mặt của tông đồ Tôma. Lần thứ hai mới có.

– Chúng con trả lời rất đúng. Cha khen chúng con. Chúng con rất giỏi.

– Cha thử hỏi khi hiện ra lần thứ nhất chúng con thấy thái độ của Chúa thế nào ?

– Chúng con thấy Chúa đầy lòng yêu thương đối với các môn đệ của Chúa.

– Rất đúng.

1. Đúng Vậy Cha Thấy Chúa Yêu Thương Các Môn Đệ Hết Sức. Tất cả họ đều có lỗi. Lỗi nhiều lắm. Lỗi hèn nhát bỏ trốn khi Chúa bị bắt, lỗi không tin khi Maria báo tin cho họ biết Chúa đã sống lại. Riêng ông Phêrô người được Chúa yêu mến đặc biệt, người được Chúa đặt là đầu tông đồ đoàn, người đã thề sống thề chết là sẽ không bao giờ bỏ Chúa, vậy mà khi vừa gặp một chút thử thách đã chối Chúa, chối tới ba lần.

Đúng là các môn đệ của Chúa đã có thật nhiều lỗi thế mà khi Chúa hiện ra, Chúa chỉ ban Bình an, rồi còn mở cả ngực của mình ra cho họ xem vết thương ở cạnh sườn, còn đưa tay ra cho họ sờ, họ kiểm nghiệm.

Thái độ của Chúa là như thế. Không một chút u buồn. Không một nửa lời trách móc, một cử chỉ khó chịu.

Tình thương của Chúa sao mà đẹp quá, tuyệt vời quá chúng con.

Ông Khoan Flovière, một học giả và là văn sỹ chuyên kể chuyện đồng quê của Phi Luật Tân, đã cho đăng trong nhật báo Ngôi sao, xuất bản tại Manila hôm 23/05/1990, một câu chuyện ngụ ngôn về một người mù và một người điếc như sau:

Tại một vùng làng quê Phi, có một anh vừa mù vừa điếc. Bù lại, anh ta có khả năng phi thường, biết sử dụng những đồ vật xung quanh và hướng dẫn cuộc sống hằng ngày của mình bằng các giác quan khác. Anh biết rõ từng vị trí từng đồ vật trong nhà. Anh cảm thấy an phận và sống hạnh phúc như bao người bình thường khác.

Nhưng rồi một hôm, bỗng xuất hiện trong tâm trí anh một ý nghĩ muốn biết được thế giới chung quanh như thế nào. Anh cầu nguyện xin Chúa cho anh được sử dụng đôi mắt và đôi tai trong vòng một tuần lễ. Thiên Chúa nhận lời. Ngay tức khắc, anh được nhìn thấy ánh sáng và màu sắc, nghe được âm thanh và tiếng nói bình thường như bao người khác. Trong hai ngày đầu, anh tỏ ra hết sức phấn khởi vì được thấy, vì được nghe. Nhưng sang đến ngày thứ ba anh lại cảm thấy buồn, vì nghe biết bao những lời nói xấu xa, thô tục, cộc cằn, và càng buồn hơn nữa khi nhìn thấy những cảnh nghèo khổ, những âm mưu đen tối để hại nhau, những hành động độc ác mà người này có thể làm cho người khác.

Quá buồn bực, anh ta lại cầu nguyện với Chúa như sau: “Lạy Chúa, con cảm thấy Chúa đã thương nhận lời con, cho con được thấy, được nghe. Nhưng giờ đây, con xin Chúa thương cho con trở lại đời sống mù, điếc như xưa; để con được bình an trong tâm hồn. Thà con mù, điếc mà được an tâm; còn hơn là nghe và thấy những cảnh quá đau lòng”.

2. Bây Giờ Cha Nói Đến Chuyện Ông Tôma.

Chúng con đã thấy, lúc Chúa hiện ra lần thứ nhất thì ông Tôma không có mặt. Không biết ông ở đâu vì Tin Mừng không cho chúng ta biết. Chỉ biết rằng sau khi những anh em của mình đã được Chúa hiện ra thì lúc đó Tôma mới mò về. Ông về giữa lúc các môn đệ đã được thấy Chúa, đang vui mừng. Họ thuật lại việc Chúa Phục sinh đã hiện ra với họ. Họ muốn chia sẻ niềm vui ấy với ông nhưng ông một mực khép chặt lòng mình lại và nhất định không chịu tin. Dù các anh em có cố thuyết phục đến đâu đi nữa ông cũng nhất định không tin. Có lẽ áp lực của anh em mạnh quá khiến ông nổi nóng và tuyên bố trước mặt mọi người:

Nếu tôi không được thọc ngón tay vào lỗ đinh của Người và nếu tôi không được đặt cả bàn tay tôi vào cạnh sườn Người thì tôi chẳng có tin.

Ông vừa tuyên bố như thế thì Chúa hiện ra.

Cũng một thái độ hiền dịu và đầy lòng yêu thương như lần trước. Không một lời trách móc. Không một cử chỉ khó chịu. Có người bảo Chúa đã phải đầu hàng trước thái độ cứng lòng tin của ông Tôma.

Và đây là câu chuyện giả tưởng:

Chúa nhìn thẳng vào mắt Tôma và Chúa hỏi

– Tôma ơi! con có tin là có Abraham, có Môisen không ?

– Dạ thưa Thầy có.

– Đã có lần nào mắt con nhìn thấy Abraham, Môisen chưa ?

– Dạ thưa Thầy, chưa, chưa bao giờ!

– Chưa mà sao con dám nói là có ?

Anh em con đã thấy Thầy, Anh em con đã tin. Vậy con còn đòi gì nữa ?

Sau một vài phút im lặng, Với đôi mắt ngấn lệ, Tôma quì mọp dưới chân Chúa và cảm động tuyên xưng: Lạy Chúa con và là Thiên Chúa của con.

Đây là lời tuyên xưng thật nhất và đúng nhất. Chúng ta không thể hiểu được lúc đó lòng Chúa vui đến như thế nào.

Cha kể cho chúng con nghe câu chuyện này:

Một hôm kia có một tên trộm đột nhập vào nhà thờ. Hắn đánh cắp chén thánh ở nhà tạm và để Mình Thánh Chúa vung vãi khắp nơi. Bằng một giọng nói run rẩy và nước mắt cả bờ mi, Cha sở báo tin ấy cho các giáo dân của mình. Ngài mời gọi họ tham dự một buổi phụng vụ để đền bù lại những xúc phạm đến Chúa và đồng thời cũng kêu gọi mỗi người đóng góp để mua một chén thánh mới.

Trong số những người đầu tiên đến dâng cúng có một bà góa nghèo, mẹ của 08 đứa con. Bà đưa cho Cha Sở một đồng tiền vàng mà bà đã cất giữ như một vật thánh từ bao lâu nay. Đó là toàn bộ gia tài của bà. Linh mục cảm động, nói:

– Cha không thể nhận nó, vì nó quá nhiều! Chắc Thiên Chúa sẽ vui thích nhìn món quà của con, nhưng cha tưởng Chúa chỉ bằng lòng chút ít thôi. Cha không thể nhận một hy sinh lớn lao như thế. Con cần, rất cần nó để mua sắm, nuôi nấng các con cái của con. Cha tự xem như mình có lỗi nếu Cha nhận đồng tiền này!

– Nhưng thưa Cha – người đàn bà trả lời – tại sao Cha lại không muốn nhận nó ? Ai nói với Cha là con cho Cha. Con đâu có Cha, mà con dâng cho Chúa, và Chúa sẽ hoàn trả nó lại cho con với cả tiền lời mà!

Nghe nói thế vị Linh mục không biết làm gì hơn là cầm lấy đồng tiền vàng. Ngài bảo:

– Thưa bà, đức tin của bà thật lớn! quá sức lớn!

Chúa đã sống lại. Một Tin mừng vĩ đại cho cả loài người. Đức Cha Bossuet, một nhà giảng thuyết lừng danh của Pháp cho rằng biến cố Phục sinh là: “một biến cố cột trụ của Lịch sử”. Sử gia Daniel Rops thì nói: “Người ta chỉ có thể phủ nhận sự kiện Phục sinh nếu không còn Phúc âm” Còn J.J. Rousseau một nhà văn lớn của Pháp phát biểu như thế này: “Nếu đời sống và sự chết của Socrate là đời sống và sự chết của một nhà hiến triết thì đời sống và sự chết của Đức Giêsu quả là đời sống và sự chết của một Đức Chúa trời”. Vâng Chúa đã sống đời sống của một Đức Chúa Trời và Chúa cũng đã chết như một Đức Chúa trời.

I. Chúa đã chết như một Đức Chúa Trời.

* Với tất cả những ai làm người: chết là hết. Tài giỏi như Alịchsơn Đại đế, thông minh như hoàng đế Napoléon, thánh thiện hiền lành như Khổng Phu Tử như các bậc thánh hiền trong Thiên hạ, ác độc tàn bạo như Tần Thủy Hoàng, như Hitler, giàu có và tài giỏi như Salomon….tất cả đã qua đi và thành tro bụi.

Có lần Napoléon đã than thở như thế này: “Bây giờ ta ở trên cù lao Saint Hélène này. Trong cơn hoạn nạn, những kẻ nịnh hót ta ở đâu ? Chúng biến mất cả rồi ư ? Ai còn nhớ tới ta ? Những bạn thân thiết của ta ở đâu ? Sao lại chỉ có mấy người nghĩa tín với ta cho đến chết vậy ? Chỉ có các ngươi chia sẻ cảnh lưu đày với ta hay sao ?- Chỉ còn một thời gian ngắn ngủi nữa là xác của ta sẽ bị chôn vùi xuống đất làm mồi cho sâu bọ. Cái khốn khổ của ta thật khác xa biết bao với cái thế giới bất diệt của Chúa Cứu Thế mà ngày nay người ta vẫn còn rao giảng, vẫn còn yêu quí, vẫn còn thờ lạy Ngài. Như vậy thì có phải là cái chết hay là sự sống. Nếu Ngài đã chết thì đó phải là cái chết của một Đức Chúa Trời”.

* Vâng, Chúa chết như một Đức Chúa Trời.

Trước khi chịu chết, Ngài đã nói thật rõ Ngài sẽ chết khi nào, chết ở đâu, chết như thế nào và chết do bàn tay của ai.

Ngài chết chỉ vì Ý của Thiên Chúa Cha muốn như thế và Ngài cho phép sự chết đến với Ngài khi Ngài muốn.

+ Nhiều lần chính những người Do Thái đã muốn giết Ngài, nhưng Ngài đã chẳng hề hấn gì.

+ Hêrôđê bắn tiếng đe dọa Ngài, Ngài thẳng thắn trả lời cho ông ta biết: “Hãy về bảo cho con cáo già đó là giờ của Ta chưa đến” (Lc 13,32).

+ Tại vườn cây dầu, ba lần quân lính đã ngã xuống đất khi Ngài mới chỉ xác nhận “Ta đây”.

+Trước mặt quan tổng trấn Philatô…..Chúa đã thẳng thắn trả lời cho Ông: “Nếu từ trên chẳng ban cho ông thì ông chẳng có quyền gì đối với tôi” (Ga 19,11)

+ “Ta có quyền thí mạng sống để rồi lấy lại” (Ga 10,17)

2. Chúa đã chết như một Đức Chúa trời và cũng đã sống lại như một Đức Chúa Trời.

* Trước khi chết Ngài đã làm những phép lạ dọn đường:

+ Cho con gái ông Giairô vừa chết được sống lại.

+ Cho người thanh niên con một bà góa thành Naim đã chết đang được đem đi chôn sống lại.

+ Và đặc biệt nhất là phép lạ cho Lazarô đã chết, đã chôn được 4 ngày sống lại.

* Ngài đã tuyên bố thật rõ ràng và dứt khoát

+ “Như Giona ở trong bụng cá ba ngày thế nào thì Con người cũng ở trong lòng đất ba ngày như vậy” (Mt 12,40)

+ “Cứ phá hủy đền thờ này đi nội trong ba ngày ta sẽ xây dựng lại” (Ga 2,19)

Vâng Ngài đã sống lại thật như lời Ngài đã nói. Đó là một sự thật còn được rao giảng cho mọi người cho đến hôm nay.

Renan: “Ngoài sự thật thì chẳng có gì đứng vững. Mọi điều có liên hệ với sự thật cùng thế. Chúng như một vốn thật nhỏ bé, nhưng khi đã liên hệ với sự thật thì nó sẽ không bao giờ bị hao hụt đi. Trái lại, giả trá sẽ sụp đổ vì nó không có nền tảng. Sự thật tuy là một lâu đài nhỏ như được xây trên nền tảng cốt sắt cứ cao lên mãi”.. D.Rops: “Đó là một điều đáng kể”

II. Lịch sử thuật lại rằng: Trong một trận giao tranh ác liệt giữa quân của Napoléon và quân địch, trận chiến càng về khuya càng ác liệt và phần thắng dần dần nghiêng hẳn về phía địch. Quân của Napoléon chết rất nhiều, hàng ngũ rối loạn mặc dầu cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp tục nhưng rời rạc. Nhìn rõ thế trận, Napoléon biết phải làm gì. Vua gọi tên lính thổi kèn lại gần và ra lệnh: “Hãy thổi kèn lui binh vì quân ta chết quá nhiều”.

Tên lính trẻ được lệnh, nhảy thót lên ngựa, phi nhanh ra giữa trận, và đưa kèn lên thổi hồi kèn thúc trận một cách mạnh mẽ. Quân của Napoléon đang mệt mỏi và thất vọng, nghe tiếng kèn thúc quân, tưởng là có viện binh tới giúp, chồm dậy phản công kịch liệt. Kèn cứ thổi, đám tàn quân vươn mình lên vừa đánh vừa la hét. Kết quả: thế trận hoàn toàn thay đổi. Quân của Napoléon toàn thắng một cách bất ngờ. Nhưng ngay sau đó, hoàng đế Napoléon sai bắt tên lính kèn kia lại, và khiển trách y rất nặng nề về tội bất tuân thượng lệnh. Anh lính bình tĩnh tâu: “Muôn tâu đức vua, từ khi được theo bước chân ngài trong binh lửa, và chiến đấu trăm trận đều trăm thắng cho nên hạ thần đã quên hẳn bài kèn rút lui rồi!”

Kính thưa anh chị em!

Quyền năng của Chúa Phục Sinh hôm nay đã tỏa lan trên toàn thân thể mầu nhiệm của Ngài trong đó có cả chúng ta. Không một quyền lực nào có thể ngăn cản được sự đắc thắng ấy.

Trong thư gửi giáo đoàn Côrintô, thánh Phaolô đã viết: “Tạ ơn Thiên Chúa, Đấng hằng cho chúng ta được tham dự cuộc khải hoàn trong Đức Kitô”.(2 Cr 2,14). và Ngài cũng viết cho môn đệ yêu quí của mình là Timôthê thế này: “Thiên Chúa không ban cho chúng ta một thần khí làm ta nhút nhát, nhưng là Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương và biết tự chủ”. (2Tm 1,7).

Hãy cảm tạ Chúa và tiến bước trong tinh thần đắc thắng:

Xin được kết thúc bằng lời cầu nguyện của Mẹ thánh Têrêsa:

“Lạy Chúa, Chúa đã chịu chết và sống lại, xin dạy chúng con biết chiến đấu trong cuộc chiến mỗi ngày để được sống dồi dào hơn.

Chúa đã khiêm tốn và kiên trì nhận lấy những thất bại trong cuộc đời cũng như mọi đau khổ của Thập giá, xin biến mọi đau khổ cũng như mọi thử thách chúng con phải gánh chịu mỗi ngày thành cơ hội giúp chúng con thăng tiến và trở nên giống Chúa hơn.

Xin dạy cho chúng con biết rằng chúng con không thể nên hoàn thiện nếu như không biết từ bỏ chính mình cũng như những ước muốn ích kỷ của mình.

Chúa là mặt trời tỏa sáng tình yêu Cha, là hy vọng hạnh phúc bất diệt, là ngọn lửa tình yêu nồng nàn.

Xin lấy niềm vui của Chúa mà làm cho chúng con nên mạnh mẽ và trở thành mối dây yêu thương, bình an và hiệp nhất giữa mọi người. Amen.

Thiếu nhi chúng con yêu quí,

Hôm nay là lễ gì chúng con ?

– Lễ Phục sinh!

– Phục sinh là làm sao ?

– Là sống lại,

– Ai sống lại ?

– Chúa Giêsu chết sống lại.

– Làm sao biết được là Chúa đã sống lại ?

Bây giờ cha bắt đầu giúp chúng con.

1. Trước Hết Cha Nói Về Ngôi Mộ Trống:

Chúa Giêsu đã đi vào cõi chết của con người. Chúa chết thực sự chứ không giả vờ. Sau khi chết người ta đã an táng Chúa trong mộ đá, nhưng rồi sáng ngày thứ nhất trong tuần, người ta không thấy xác Chúa nữa. Chúa đã sống lại ra khỏi mồ và để lại ngôi mộ trống.

Cha hỏi chúng con có phải Ngài đã sống lại thật rồi không ? Ngôi mộ trống phải chăng là một bằng chứng ?

Không ai dám quả quyết một cách chính xác một trăm phần trăm rằng đây đúng là một bằng chứng chứng minh Chúa đã sống lại thật.

Thế nhưng sự thật về ngôi mộ trống là một sự thật không thể chối cãi.

Ngày 27/2/1973 một bản tin phát ra làm xôn xao cả nước Pháp: đó là tin thi hài Thống Chế Pétain bị đánh cắp… nhưng chỉ sau đó mấy ngày người ta lại tìm lại được và cho dù trong cuộc trưng cầu dân ý, 72% nhân dân Pháp muốn phục hồi danh dự cho cố Thống Chế, nhưng ông Pompidou Tổng Thống Pháp vẫn ra lệnh đem chôn trong ngôi mộ cũ và cho lính canh gác ngày đêm.

Như vậy ngôi mộ chỉ trống rỗng có mấy ngày, xác mất đi đã tìm lại được.

Rồi bên Ai Cập hiện nay người ta thấy có nhiều ngôi mộ cũng trống rỗng, như các ngôi mộ của các Pharaông trong các Kim tự tháp. Tại sao lại có sự trống rỗng như thế ? Thưa vì xác của các vị đó đã được đem về bảo tàng viện Le Caire, để những ai đến đây còn có dịp nhìn thấy rõ ràng thi hài các vị Pharaông đã trị vì Ai Cập xưa.

Rồi cách đây không lâu, người ta loan báo là đã tìm ra được những mảnh xương (cũng gọi là xá lợi) của Đức Phật Thích Ca. Những mảnh xương ấy đã được đưa về một trong các thành phố gọi là thánh địa của Ấn. Người ta tổ chức những cuộc lễ vô cùng long trọng để cung nghinh và chiêm bái. Trước quang cảnh ấy một giáo sĩ công giáo đã phát biểu với một người bạn cùng đi tham quan: “Nếu người ta tìm được một mảnh xương của Chúa Giêsu thì Kitô giáo sẽ phải sụp đổ mất”.

Như vậy trong thế giới cho tới ngày nay chỉ duy có một ngôi mộ trống mà người ta đã tìm kiếm suốt hơn 2.000 năm di hài chôn trong đó nhưng không thấy và sẽ không bao giờ thấy vì một lẽ rất dễ hiểu là người đó đã sống lại thực sự.

Đầu tháng 3/2007, kênh truyền hình Discovery đã cho trình chiếu một phim tài liệu mang tựa đề “Ngôi Mộ Thất Lạc của Chúa Giêsu”. Nội dung xoay quanh việc khám phá khảo cổ năm 1980 ở khu Talpiot, phía đông Giêrusalem. Mười hộp đựng cốt đã được khai quật, trong đó có một hộp khắc tên Giêsu con ông Giuse. Phải chăng đoàn làm phim đã kiếm được bằng chứng khảo cổ về con người Giêsu thành Nazareth ? Phải chăng đây là chứng cớ làm lung lay niềm tin vào Đấng Phục Sinh ?

Các chuyên gia khảo cổ Do Thái đã không cho là như thế. Vì chín phần trăm đàn ông Do Thái ở thế kỷ thứ nhất mang tên Giêsu; mười bốn phần trăm mang tên Giuse. Đây không phải là lần đầu tiên, và cũng không phải là lần cuối cùng những hộp đựng cốt như thế này xuất hiện. Ít ra là đã có hai hộp mang tên Giêsu con ông Giuse được khai quật từ năm 1930. Cho nên câu chuyện tìm được hài cốt của Chúa Giêsu chỉ là giả tưởng.

Như vậy chúng ta có thể đi đến một kết luận rằng tuy chúng ta không thể căn cứ vào sự kiện ngôi mộ trống để quả quyết một cách chính xác rằng Chúa đã sống lại thật, nhưng chúng ta phải nhận rằng sự kiện ngôi mộ trống là một sự kiện có thực. Sự thật này có thể được coi là một đóng góp quan trọng vào những sự kiện khác để chứng minh cho việc phục sinh của Chúa.

Mừng Chúa Phục Sinh, chúng ta tuyên xưng rằng: đằng sau câu chuyện “Ngôi Mộ Trống” là sự hiện diện đích thực của một “Đấng Phục Sinh”, của một quyền năng có sức mạnh cải biến những trái tim đang đau buồn thất vọng thành bừng sáng tin yêu, biến những con người yếu đuối nhát sợ nên mạnh mẽ tuyên xưng đức tin dù phải lấy cái chết mà “làm chứng” Thầy mình đã sống lại và đang sống.

Vâng, câu chuyện “Ngôi Mộ Trống”, “Đức Kitô Phục Sinh” mãi mãi, muôn đời, khắp nơi, là câu chuyện của niềm tin căn bản của Kitô giáo. Bởi vì câu chuyện này, biến cố này lại không phải là một sự kiện đột xuất, tình cờ của lịch sử, nhưng là một công trình vĩ đại trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Và sự cứu độ là gì nếu không phải là đem lại cho chúng ta niềm hy vọng nơi một Thiên Chúa luôn trung tín với tình yêu của Người ?

2. Việc Chúa Phục Sinh Với Những Nhân Chứng Đầu Tiên.

Sau ngày Chúa Phục Sinh, người đầu tiên khám phá ra ngôi mộ trống là Maria Mađalêna. Cảm giác đầu tiên của bà khi không thấy xác Chúa trong ngôi mộ đã an táng Ngài nữa là “người ta đã lấy mất xác Thầy rồi” và việc phải làm ngay là đi báo cho các môn đệ của Chúa. Vừa được báo, Phêrô và Gioan đã chạy ngay ra mộ, và khi thấy ngôi mộ đã mở toang, Phêrô và Gioan lúc đầu hơi choáng váng. Rồi bình tĩnh lại nhìn vào trong, thấy khăn liệm còn đó, Phêrô chẳng hiểu gì, còn Gioan đã thấy và tin.

Tại sao cả ba, đứng trước cùng một sự kiện, mà kẻ tin, người lại không tin ?

Đó chính là vì tâm trạng của mỗi người đối với Chúa Giêsu.

* Maria Mađalêna.

Khi ra viếng mộ, Maria Mađalêna chỉ muốn cho vơi đi nỗi nhớ, chứ đâu có ngờ được rằng một người đã chết có thể sống lại. Quả thật, đối với Maria Mađalêna, chết là khép lại tất cả, chết là chấm dứt tất cả và đằng sau cái chết là một bóng đêm dày đặc.

* Tâm trạng của Phêrô và Gioan.

Còn đối với Phêrô, chúng ta có thể thấy ông là con người đang sợ hãi. Ông sợ bị liên lụy. Ông sợ bị bắt bớ. Ông chạy ra ngôi mộ với tâm trạng đối phó. Với tâm trạng đó như thế, làm sao ông có thể nghĩ đến việc Chúa sống lại được.

Chính vì vậy, Phêrô và Gioan, cả hai đều vào trong mộ, cả hai đều thấy khăn liệm, nhưng Phêrô chẳng hiểu gì, còn Gioan “ông đã thấy và tin”.

Phêrô đã thấy nhưng chẳng hiểu gì, còn Gioan thì “đã thấy và đã tin”.

Ngôi mộ trống đối với Phêrô chẳng khác gì các ngôi mộ khác. Nhưng đối với Gioan thì ngôi mộ trống là một dấu chỉ thật lớn. Ngôi mộ trống làm cho Gioan nhớ lại bao lần Thầy đã nói về sự sống lại của Ngài. Bởi thế ông thấy và ông tin.

Tại nhà ga Verona, bên Italia năm 1945, dân chúng đang chờ đợi các binh sĩ trở về từ các trại tập trung của Đức Quốc Xã. Sự xuất hiện của chuyến xe lửa đã khơi dậy những tiếng reo vui tưởng chừng như không bao giờ dứt.

Từ trên xe lửa những tấm thân tiều tụy bắt đầu bước xuống sân ga giữa tiếng cười pha lẫn tiếng khóc của người thân. Cuối cùng, một người lính trẻ mò mẫm bước đi từng bước. Anh từ từ tiến về phía một người đàn bà già yếu và chỉ đủ sức để thốt lên tiếng “Mẹ”. Hai mẹ con ôm chầm lấy nhau… Người mẹ già xót xa: “Làm sao một người mù như con lại có thể tìm đến với mẹ ?”. Người lính mù ấy đáp: “Thưa mẹ, con không nhìn thấy mẹ bằng đôi mắt, nhưng trái tim con đã hướng dẫn con”.

Gioan trong câu chuyện hôm nay cũng như thế. Đôi mắt của Gioan và Phêrô chẳng có gì khác nhau nhưng trái tim của Phêrô và của Gioan thì khác. Chính trái tim của Gioan đã mách bảo cho Gioan những gì ngôi mộ trống đã muốn nói với ông. Amen.

Anh chị em thân mến,

Bài Thương khó hôm nay tương đối khá dài và tự nó đã nói lên rất nhiều ý nghĩa cho mỗi người chúng ta. Tuy nhiên tôi cũng xin được chia sẻ với anh chị em một vài cảm nghĩ của tôi. Đọc bài Thương khó hôm nay, tôi thấy có một vài điểm rất đáng cho chúng ta suy nghĩ

1. Điểm thứ nhất là lòng dạ của con ngưi. Lòng dạ con người sao mà dễ thay đổi quá. Chỉ trong một thời gian không đầy một tuần lễ mà chúng ta được chứng kiến bao nhiêu cảnh thay lòng đổi dạ của con người dối với Chúa Giêsu, Chúa của chúng ta.

          a/ Trước hết là đám đông quần chúng

Lúc Chúa vào Thành thánh Giêrusalem, chúng ta không thể tưởng tượng được thái độ của họ vui mừng đến như thế nào. Họ sẵn sàng cởi áo trải xuống lót đường cho Chúa đi qua. Họ bẻ cành cây đầy lá giơ cao để đón mùng Chúa. Miệng của họ hò la đến vang trời dậy đất khiến nhà cầm quyền lúc đó cũng cảm thấy rúng động. “Hoan hô con Vua Đavid…Hoan hô….Hoan hô…Vạn tuế….Vạn tuế …Vạn tuế con Vua Đavid ….Vạn tuế Đấng nhân danh Thiên Chúa đến cùng chúng tôi”

Nhưng rồi cũng lại hầu hết những con người này, chỉ mấy ngày hôm sau lại gân cổ lên mà la thật to rằng “Hãy đóng đinh nó vào Thập giá, hãy đóng đinh nó vào Thập giá”- Và cả sau khi Chúa chịu đóng đinh rồi họ cũng vẫn chưa chịu buông tha cho Chúa: “Hãy xuống khỏi Thập giá đi để chúng ta tin nào…Kẻ đã cứu được người khác mà không cứu nổi chính mình…..Xuống khỏi Thập giá đi…Xuống khỏi Thập giá đi.”.

Ôi lòng dạ của con người sao mà chóng đổi thay đến như thế.

 b/ Thứ đến là lòng dạ của một người môn đệ đã được Chúa dành cho nhiều tình thương. Người đó là ai thì tất cả chúng ta đều đã biết: Giuđa. Vâng Giuđa đã phản bội. Tin Mừng đã ghi thật rõ “Giuđa tên phản bội”. Lòng dạ của Giuđa thật ích kỷ và hẹp hòi. Anh ta đã được Chúa thương, thương hơn nhiều môn đệ khác. Anh đã được Chúa tín nhiệm, tín nhiệm hơn những anh em khác, Chúa trao cho anh quản lý tất cả những gì Chúa có. Chúng ta có thể nói như thế. Anh đâu dó thiếu gì vậy mà anh đã phản bội. Chúa rất buồn với anh, buồn tới mức độ Chúa phải thốt lên một lời, một lời mà trong suốt cả cuộc đời của Chúa, Chúa không hề nói với bất cứ một ai: “Thà nó đừng sinh ra thì hơn” Thật là xót xa cho Chúa, cho Người Thầy chí Thánh của anh, anh Giuđa ạ

c/ Một số các nhân vật khác mà Bài thương khó hôm nay cũng nhắc tới. Đó là nhóm những người được Chúa ưu ái tuyển chọn trong đó có một người mà Chúa yêu thương rất đặc biệt. Người ấy không là ai xa lạ với chúng ta. Đó là Ông Phêrô. Phêrô theo nội dung tiếng Do Thái là đá tảng. Trước đó không bao lâu đá tảng Phêrô đã thề sống thề chết: “Dù tất cả có bỏ Thấy, con cũng không bao giờ….không bao giờ”- và Tin Mừng còn ghi “Các tông đồ khác cũng nói như vậy”. Vậy mà sau đó không bao lâu chỉ có vài lời vu vơ của một vài đứa đầy tớ gái, tảng đá Phêrô đã vỡ tan tành. Ông Phêrô ơi! Ông không biết Chúa thật sao ?. Thật là đau đớn cho Chúa….Con người mà Chúa đã tin tưởng đặt làm thủ lãnh một xã hội mới lại thề thốt trước mặt mọi người rằng không biết Chúa là ai. Thật là đau xót. Thật là tủi buồn.

2, Nhưng may mắn thay chúng ta còn có Chúa. Lòng Chúa không bao giờ đổi thay. Chúa luôn một lòng một dạ…một lòng một dạ với Thiên Chúa Cha, một lòng một dạ với lý tưởng yêu thương của Ngài. Vâng Chúa luôn một lòng một dạ. Lòng trung thành của Chúa không bao giờ thay đổi.

a/ Chúng ta có thể nói sự sống của Chúa là Thánh ý của Thiên Chúa Cha: “Của ăn của Thầy là làm theo ý Đấng đã sai Thầy” Cả cuộc đời trần thế của Chúa cũng chỉ là như vậy: “Lạy Cha này con xin đến để làm theo ý Cha”. Ý Cha như thế nào con cũng một lòng một vâng theo. Trước chén đắng đầy tràn, Ngài cảm thấy run sợ nhưng lúc nào Thánh ý Thiên Chúa Cha cũng phải được đặt lên trên hết: “Lạy Cha nếu có thể được thì xin cho con khỏi uống chén này, nhưng xin đừng theo ý con mà theo ý của Cha”

b/ Bên cạnh đó Chúa có một lý tưởng để đi theo: Lý tưởng yêu thương. “Thầy đã đem lửa xuống trần gian và Thầy mong uớc biết bao cho lửa đó được bùng cháy lên”. Chúa một lòng một dạ với lý tưởng đó. Không có cái gì trên trần gian này có thể làm cho Chúa xa rời lý tưởng đó.

Từ trên Thập giá Chúa nhìn xuống cả một đám đông vẫn còn say máu căm thù vậy mà Chúa vẫn có thể bình thản cầu nguyện “Lạy Cha xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”.

Cả cuộc đời của Chúa là cuộc đời phục vụ. Tin Mừng cho chúng ta thấy Chúa phục vụ đến quên mình. Chúa sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh, kể cả cái chết trên Thập giá vì Lý tưởng yêu thương: “Không có tình yêu nào lớn hơn Tình yêu của người dám hiến mạng sống của mình cho người mình yêu”

Lạy Chúa, Chúa đã một lòng một dạ với Thiên Chúa Cha, một lòng một dạ với lý tưởng yêu thương. Xin Chúa giúp cho chúng con được luôn gắn bó vớ Chúa. Xin cho chúng con được biết yêu thương như Chúa. Để khi sống như Chúa

chúng con biết cho đi mà không tính toán

biết chiến đấu mà không sợ thương tích

biết làm việc mà không tìm an nghỉ

biết xả thân mà không tìm một phần thưởng nào khác

ngoài việc biết rằng chúng con đang thi hành Thánh ý Chúa. Amen.

Thiếu nhi chúng con thân mến,

Chúng con vừa nghe thánh Tin Mùng khá dài. Câu chuyện rất cảm động xảy ra vào những ngày cuối đời của Chúa Giêsu trên trần thế.

Cha hỏi chúng con: Qua câu chuyện hôm nay chúng con thấy được cái gì nổi bật nhất ?

Chúng con cho cha ý kiến nào.

– Chúng con thấy lòng dạ của người ta thay đổi nhanh quá.

– Đúng! Cha cũng thấy vậy. Nhanh quá! Không thể tưởng tượng nổi.

– Sao mà người ta ác quá!

– Đúng. Người ta ác với Chúa Giêsu quá. Chúa Giêsu đâu có thù hằn gì với ai. Nhiều người còn chịu ơn Chúa. Vậy mà sao họ nỡ tâm đối xứ ác với Chúa như thế.

– Thật là buồn lòng cho Chúa! Riêng đối với cha, điều cha cảm phục nhất là cách Chúa phản ứng và đối xử với mọi việc xảy ra một cách hết sức bình thản và đầy lòng yêu thương. Đây cha chứng minh cho chúng con.

Trước hết chúng con thấy Chúa thanh thản và chủ động bước vào cuộc Thương khó khi Người nói với các môn đệ: “Thầy ước ao dự bữa tiệc Vượt qua với các con”. Đứng trước cái chết, con người ai mà chẳng run sợ, vì con người nghĩ rằng chết là hết, chẳng có gì tồn tại. Nhưng với Chúa Giêsu, chết là đi về cùng Chúa Cha. Chúa yêu mến Chúa Cha, khao khát kết hiệp với Chúa Cha, nên Người thanh thản bước vào cuộc khổ nạn để được về cùng Chúa Cha.

Lúc quân lính hung hăng đến bắt Chúa, Chúa vẫn hiền hòa không kháng cự.

Bị vây bọc trong bầu khí sát máu, Chúa vẫn cư xử với lòng nhân hậu khoan dung. Chúa chẳng lo cho an toàn của bản thân: nên giữa lúc khó khăn khốn đốn Chúa vẫn mở rộng bàn tay nhân ái chữa lành vành tai bị đứt của người đày tớ vị thượng tế.

Khi Giuđa đến hôn mặt Chúa, Chúa vẫn đối xử một cách lịch sự, tế nhị. Đối lại tội phản nghịch tày trời, Chúa chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở, hi vọng đánh thức lương tâm người học trò mê tiền mà đi đến phản bội.

Lúc đang bị xét xử, dù phải chịu nhục nhã đắng cay, Chúa vẫn quan tâm đưa mắt nhìn Phêrô. Vị đại diện các tông đồ, sau khi chối Thầy, đã nhận được ánh mắt kín đáo của Thầy. Ánh mắt hiền dịu mà đau khổ. Ánh mắt trách móc thì ít mà tha thiết van xin thì nhiều. Ánh mắt nhân từ tha thứ đã khiến Phêrô ray rứt khôn nguôi.

Rồi trên con đường lên Núi Sọ, dù vai phải mang cây thánh giá nặng nề, dù bản thân yếu mệt và tủi nhục, Chúa vẫn còn đứng lại an ủi những người phụ nữ khóc lóc, an ủi đám dân đã tố cáo, đã kết án Chúa.

Trên thập giá, lúc đớn đau đã thấm vào đến tận xương tuỷ, lúc sức lực đã cạn kiệt, vậy mà Chúa vẫn còn quan tâm lắng nghe người trộm lành. Ôi sao mà lạ lúng quá. Thật là tuyệt vời!

Và còn hơn thế nữa, Chúa đã tha thứ cho những sĩ quan, những binh lính hành hạ Chúa. Chúa không chỉ tha thứ mà còn cầu nguyện xin Chúa Cha tha cho tất cả mọi người có dính líu đến việc xử án Chúa.

Cha hỏi chúng con Chúa làm tất cả những điều ấy để với mọi người điều gì ?

Câu trả lời không khó. Chúa muốn cho mọi người thấy tình yêu của Chúa.

Tình yêu ấy là làn ánh sáng xé tan bóng đêm thù hận, chiếu soi vào lòng của cả những người ghét ghen. Cha nhớ Đức Cha Fulton Sheen một tông đồ của Tin Mừng đã nói một câu rất hay: Tình yêu thương của Chúa giống như loài gỗ quí nhuốm cả hương thơm vào lưỡi búa đã đốn ngã nó.

Giữa những hung hãn tàn bạo, Chúa vẫn hiền lành khiêm nhường.

Giữa những hận thù, Chúa vẫn yêu thương.

Giữa những phản bội, Chúa vẫn tha thứ.

Tình yêu của Chúa đã thắng.

Có một nhà tư tưởng lớn Karl Menninger nói: “Tình yêu là liều thuốc kỳ diệu chữa trị mọi vết thương của cả người cho lẫn người nhận”

Nhà văn lớn người Nga tên là Lev Tolstoy còn nói mạnh hơnTình yêu kỳ diệu. Ở đâu có tình yêu, ở đó có sự sống”.

Nói tới đây cha nhớ đến một câu chuyện. Câu chuyện này thật đẹp. Câu chuyện như thế này: Một hiệp sĩ dũng cảm kia tên là Hidebrand bị một bạn đồng nghiệp tên là Bruno nhục mạ nặng nề. Hidebrand thề sẽ trả thù đích đáng. Ông suy nghĩ và chuẩn bị kỹ lưỡng chương trình hành động. Cuối cùng ông chọn địa điểm và thời giờ thuận lợi đễ ra tay. Ông thức dậy sớm giữa đêm, một mình võ trong đầy đủ, đi đến một nơi thanh vằng mà ông biết Bruno sẽ đi ngang qua. Trên đường đi ông gặp thấy một nhà nguyện nhỏ còn mở cửa. Ông vào đó để chờ sáng, và trong khi chờ đợi ông giải trí bằng cách đi quan sát các bức tranh trong nhà nguyện.

Bức tranh thứ nhất vẽ Chúa Giêsu mặc áo choàng đỏ, đầu đội mão gai, phía dưới có ghi câu này bằng tiếng Latinh: “Bị lăng nhục, Ngài không đáp trả lại bằng lăng nhục”.

Bức thứ hai, nhắc lại cảnh đau buồn khi Chúa bị đánh đòn, với hàng chữ “Khi chịu những khổ đau như thế, Ngài không hề đe dọa”.

Và cuối cùng, bức thứ ba vẽ Chúa Giêsu trên Thập giá, hàng chữ là: “Lạy Cha xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Nhìn liên tiếp ba bức tranh như thế, tâm hồn Hidebrand bị xúc động mạnh. Ông quỳ gối xuống và bắt đầu cầu nguyện. Dần dần cơn hận thù giảm đi, rồi biến mất. Ông còn ngồi lại đó chờ kẻ thù của ông đến, nhưng chờ để tha thứ tận tình và để làm hoà với bạn. (Góp nhặt)

Cha chúc chúng con biết yêu thương như Chúa để cuộc đời chúng con giống Chúa nhiều hơn. Amen.

Phải nói ngay rằng khi đọc câu truyện này tôi cảm thấy rất phấn khởi và vui mừng. Lý do là vì trong câu truyện này tôi gặp được một Đức Giêsu rất gần gũi với tôi, với những con người đồng thời tôi cũng thấy thật rõ Ngài còn là một Thiên Chúa quyền năng

1. Trước hết, tôi gặp được một Đức Giêsu đầy tình người. Chúa đã cư xử rất “người” đối với những con người.

Tôi xin đan cử vài thí dụ:

a/ Khi Lazarô đau, hai chị em của ông đã dùng những lời như thế này để báo tin cho Chúa: “Lạy Thầy, người Thầy yêu đang đau liệt” (Ga 11,3). “Người Thầy yêu” Chúng ta khó có thể tìm thấy được một kiểu nói nào chân thành và đầy tình người hơn như thế ở trong cả Kinh Thánh chứ không phải là chỉ trong Tin Mừng mà thôi.

b/ Khi được tin Lazarô đau, Chúa nói với các môn đệ của Ngài: “Lazarô, bạn của chúng ta đang ngủ” (Ga 11,11). Lazarô-bạn. Bạn của chúng ta, bạn của Chúa, bạn của cả các tông đồ.

Thật là thân mật! Khó có thể mà tìm được một cách diễn tả thân tình, một cách xưng hô tuyệt vời hơn thế.

c/ Khi biết Lazarô chết, Chúa quyết định đi thăm ông. Các môn đệ can: “Thưa Thầy mới đây người Do thái tìm cách ném đá Thấy mà Thầy lại còn trở lại đó sao ?” (Ga 11,8) nhưng Chúa nhất định cứ đi. Chỉ có những người đã trở thành một lòng một dạ, mới dám sống chết cho nhau, mới có đủ can đảm và dám hy sinh cho nhau như thế.

Bất chấp sự hiểm nguy có thể đe dọa đến cả tính mạng, Chúa nhất định cứ đến, đến để cho mọi người biết cách Ngài đối xử với bạn của mình như thế nào, Ngài yêu thương bạn mình như thế nào.

d/ Lúc đầu khi Chúa tới, chỉ có một mình Matta ra đón Chúa. Chúa chưa vào nhà. Chúa cho gọi Maria ra. Matta vào gọi em. Chị nói: “Thầy đến ở ngoài kia, Thầy cho gọi em” (Ga 11,28)

Tại sao Chúa lại làm như vậy ? Đây là cách đối xử tế nhị: Một chút cách ly trong không gian và thời gian để tránh những xúc động quá đáng có thể phương hại đến sức khỏe. Phải là một người tế nhị lắm mới có thể nghĩ ra được một cách ứng xử đẹp như thế.

e/ Khi gặp Chúa, Maria khóc. Chị khóc rất tự nhiên, rất chân thành, làm cho những người có mặt chung quanh cũng khóc theo. Rồi Chúa cũng xúc động và Chúa cũng khóc theo, khóc rất tự nhiên, rất chân thành. Chúa khóc, khóc với những người đang khóc, khóc với Maria, khóc bằng nước mắt có chất mặn của con người. Những giọt nước mắt trào ra từ một tâm hồn như đang cùng chịu một niềm đau vì có một người thân qua đời. Đó là những gì rất người.

2. Nhưng đàng sau những gì rất người ấy, tôi còn gặp được một Đức Giêsu là một Thiên Chúa.

Vâng đúng như vậy anh chị em. Tôi đã gặp được một Đức Giêsu là một Thiên Chúa.

a/ Khi Chúa có mặt, một số người Do thái đã nói với nhau “Ông ấy đã mở mắt cho người mù…mà không thể làm cho anh ấy khỏi chết hay sao ?” (Ga 11,37) Một cách nào đó, họ đã thấy được quyền năng của Chúa.

b/ Khi đến trước cửa mộ, Chúa chỉ vào phiến đá lấp cửa mồ và ra lệnh: “Hãy đem phiến đá đó đi” (Ga 11,39). Thật là không ai dám nghĩ tới điều đó. Đây là một lệnh truyền kinh khủng bởi vì luật pháp Do Thái phạt rất nặng tất cả những ai dám xâm phạm đến mồ mả của người chết. Bởi vậy khi Chúa truyền lệnh phải gỡ hòn đá lấp cửa mồ Lazarô ra thì tất cả mọi người đều cảm thấy sợ hãi.

Ở đây lại một lần nữa Chúa làm cho mọi người thấy là Chúa có quyền làm tất cả những gì Ngài muốn vì Ngài là Thiên Chúa. Trước đó khi Martha bày tỏ sự thất vọng của mình: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con đã không chết” (Ga 11,32). Chúa trả lời ngay, như một lời hứa: “Em con sẽ sống lại” (Ga 11,23) và bây giờ thì Chúa sắp làm những gì Chúa đã nói. Tất cả mọi người đều ngỡ ngàng và khiếp sợ, Martha đánh bạo thưa với Chúa: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, em con đã ở trong mồ bốn ngày rồi” (Ga 11,39)

Bốn ngày cho một cái xác chết, không còn có thể làm gì được nữa. Con người hoàn toàn bất lực. Con người hoảng sợ cũng phải vì con người chẳng có thể làm gì cho một cái xác không hồn đã được chôn 4 ngày rồi.

Nhưng với Chúa thì không như thế vì Chúa có quyền. Ngài có quyền vì Ngài là Thiên Chúa.

c/ Khi phiến đá chắn cửa mộ đã được đem đi, Chúa đưa ra một lệnh tiếp theo còn kinh khủng hơn: “Lazarô! Hãy ra khỏi mồ” (Ga 11,43). Đó là một lệnh truyền cho người đã chết và đã được người ta đem chôn 4 ngày rồi, không còn bất cứ một khả năng tiếp thu nào nữa. Vâng, một lệnh truyền cho một con người đã chết, và Phúc âm ghi thật rõ: “Người đã chết liền đi ra, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn”. (Ga 11,44)Người đã chết đi ra”. Đây không phải là ngôn ngữ của con người nữa, mà là ngôn ngữ của Thiên Chúa. Không ai trong con người dám truyền lệnh cho người đã chết. Chỉ có Thiên Chúa mới làm được những điều kỳ diệu như thế. Thiên Chúa có quyền trên sự chết. Và sự chết phải tuân lệnh của Người.

d/ Rồi bằng một lệnh truyền thứ ba “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi” (Ga 11,44), Chúa đã hoàn tất công việc trả lại sự sống cho người đã chết. Trả lại sự sống cho người đã chết. Đó là một điều kỳ diệu không thể tin được nhưng lại là một sự thật Chúa đã làm trước mặt rất nhiều người. Nếu không phải là Thiên Chúa thì làm sao làm được những điều kỳ diệu như vậy.

3. Tôi không dám dài dòng. Chỉ còn một tuần nữa là chúng ta bước vào cao điểm của năm Phụng vụ, vào những ngày chúng ta cùng được rất gần gũi với mầu nhiệm tử nạn và Phục sinh của Chúa. Nhưng làm sao để cho những ngày này thực sự là những ngày đem lại một sức sống mới cho chúng ta. Có nhiều cách, nhưng tôi nghĩ chúng ta nên nhắc lại lời tuyên xưng mà Martha đã tuyên xưng cách đây gần 2000 năm. “Con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa” (Ga 11,27)

Không có được lòng tin vào Đức Kitô như thế, chúng ta sẽ không thể hiểu được những gì Chúa làm…thậm chí chúng ta còn thấy ghê sợ. Nhưng khi đã tin, mọi sự sẽ thay đổi. Chúng ta sẽ không còn khiếp sợ. Chúng ta sẽ trở nên can đảm và chúng ta có thể làm cho đời sống của chúng ta thành một đời sống thật đáng sống.

Cảm nhận được sự gần gũi của Chúa trong cuộc đời là một cảm nhận rất cần thiết. Nó sẽ đem lại cho con người nhiều nghị lực và niềm vui.

Chúng ta thường tìm xem Thiên Chúa ẩn mình ở đâu: một nơi, một đài quan sát, Người nhìn mà không ai thấy… Vì Người vô hình, chúng ta nghĩ là Người ở rất xa, vượt trên các vì sao. Thực sự thì Người ở quá gần, nên mắt ta chẳng thấy. Thiên Chúa ở gần kề tôi hơn cả hơi thở của tôi, mạch máu tôi, ý thức của tôi… Lý tưởng mà tôi nhắm tới, và động lực thúc đẩy tôi, chúng ở bên trong tôi, đó chính là Thần Khí chan hòa trong lòng tôi. (Mahomet)

Một nhà giải phẫu tài ba mời một vị mục sư đến để chứng kiến một ca phẫu thuật khó khăn ông sắp thực hiện. Đang lúc nhà giải phẫu chuẩn bị cho công việc sắp tới như chùi tay, bận áo choàng vô khuẩn, đeo găng tay bằng cao su, thì vị mục sư thấy như có một điều gì đó làm cho nhà giải phẫu hơi bối rối. Thấy thế vị mục sư hỏi:

– Xong chưa bác sĩ ?

– Chưa, nhưng gần xong.

Trả lời xong thì nhà giải phẫu cúi đầu xuống lặng lẽ cầu nguyện một lúc. Đoạn, bình tĩnh và thanh thản đi vào phòng mổ. Ông mổ khéo léo tuyệt vời. Sau đó vị mục sư thắc mắc:

– Tôi lấy làm lạ vì thấy ông cầu nguyện trước khi mổ. Tôi cứ tưởng nhà giải phẫu chỉ tin cậy ở tài năng của mình thôi.

Nhà giải phẫu đáp:

– Thưa mục sư, nhà giải phẫu cũng chỉ là người, không thể tự mình làm ra phép lạ. Tôi tin chắc rằng nếu không nhờ vào một yếu tố nào mạnh hơn loài người, thì khoa học chẳng có tiến bộ như ngày nay.

Rồi ông kết luận:

– Ngài thấy đó, đang khi mổ xẻ, tôi cảm thấy mình rất gần gũi với Đức Chúa Trời, đến nỗi tôi không biết tài năng của tôi ngừng lại ở đâu và tài năng của Chúa bắt đầu từ chỗ nào.