Thiếu nhi chúng con yêu quí,

Suốt mấy tuần qua chúng ta đã được Giáo Hội giúp cho chúng ta gặp gỡ Chúa Giêsu: Gặp gỡ Chúa Giêsu trong máng cỏ Belem, gặp gỡ Chúa Giêsu bên bờ sông Giođan khi Chúa đến xin Gioan Tẩy Giả làm Phép Rửa cho Ngài.

Qua các lần gặp gỡ này, chúng ta đã được biết Chúa Giêsu là ai, Ngài được Thiên Chúa Cha sai xuống trần gian này để làm gì.

Hôm nay Tin Mừng thuật lại cho chúng ta về việc Chúa bắt đầu thì hành sứ vụ Thiên Chúa Cha trao phó.

A. Khi bắt đầu sứ vụ Chúa Cha trao phó chúng ta thấy Chúa Giêsu đã có hai hai chọn lựa rất quan trọng. Đây là những chọn lựa có tính toán cẩn thận vì nó quyết định cho sự thành bại trong công việc của Chúa. Nếu chúng con hỏi cha tại sao Chúa Giêsu phải làm thế thì cha có thể trả lời cho chúng con ngay: Tại vì Chúa phải thi hành sứ vụ Thiên Chúa Cha trao phó cho con người và giữa loài người cho nên Chúa cũng phải nghĩ đến những phương pháp của con người.  Vậy thì Chúa đã làm gì ? Qua bài Tin Mừng hôm nay chúng ta thấy, khi bắt đầu công việc rao giảng Tin Mừng

1. Trước hết Chúa Giêsu đã chọn cho mình một địa điểm. Địa điểm đó là miền Galilêa.

Chúng ta biết nước Do thái thời Chúa Giêsu có ba miền rõ rệt.

Miền Bắc có tên là Galilêa, miền Trung có tên là Samaria, miền Nam có tên là Giuđêa. Mỗi miền có những đặc tính riêng của nó giống như ở Việt Nam chúng ta vậy.

Nếu chúng con hỏi tại sao Chúa không chọn miền Giuđêa là miền quan trọng hơn vì có thủ đô Giêrusalem mà lại chọn Galilêa là miền đất mà người Do thái gọi là miền đất của dân ngoại ?

Nếu đọc kỹ Tin Mừng chúng con thấy Chúa thật khôn ngoan.

Chúa chọn miền Galilêa bởi vì đây là miền mà dân chúng ta có những đức tính rất đặc biệt. Họ sẵn sàng mở cửa đón nhận những ý niệm mới. Sử gia người Do Thái Giosephus nói về người Galilêa như thế này: “Bao giờ họ cũng thích đổi mới, bản tính họ thích thay đổi và thích bạo động. Họ luôn luôn sẵn sàng theo một thủ lãnh và phát khởi một cuộc nổi dậy. Họ nổi tiếng là người nóng tính và thích cãi vã. Tuy nhiên họ cũng là những người hào hùng nhất”. Đặc tính bẩm sinh của người Galilêa khiến cho việc truyền giảng nơi họ rất thuận lợi. Thái độ cởi mở đón nhận những tư tưởng mới cũng là một yếu tố rất quan trọng đối với Chúa.

Hơn nữa Galilêa còn là một địa danh có những con đường lớn. Mọi con đường lớn của thế giới đều đi ngang qua Galilêa. Người ta thường nói: “Giuđêa không có đường đi đâu hết, còn Galilêa đi khắp nơi”. Giuđêa có thể dựng nên một hàng rào để chặn đứng những ảnh hưởng và tư tưởng ngoại bang, còn Galilêa không bao giờ làm được như vậy. Galilêa là miền dành cho những điều mới mẻ xâm nhập. Như vậy Chúa chọn Galilêa là rất hợp lý. Với Galilêa, Chúa thấy người ta sẽ dễ dàng đón nhận những lời rao giảng mới mẻ của Chúa hơn, đồng thời cũng với Galilêa những lời rao giảng của Chúa sẽ được loan truyền đi khắp nơi nhanh hơn. Chính vì thế mà Chúa đã chọn Galilêa. Cha có thể nói đó là một sự chọn lựa tuyệt vời.

2. Tiếp đến Chúa chọn những môn đệ.

Đây cũng là một chọn lựa quan trọng.

Chúng con thấy việc rao giảng Tin Mừng của Chúa là việc làm cho con người và vì con người. Chính vì thế mà Chúa không làm việc một mình. Chính vì là công việc cho con người và vì con người nên Chúa đã phải nghĩ đến cả một tương lai xa khi Chúa không còn ở trên trần gian này nữa. Chính vì thế mà Chúa phải chuẩn bị mọi sự để khi Chúa làm xong công việc của mình thì phải có người tiếp tục công việc của Chúa cho tới ngày tận thế.

Trong số những đến nghe Ngài rao giảng, Chúa Giêsu đã chú ý tới hai cặp anh em. Họ đều là những ngư phủ đang hành nghề trên biển Galilêa. Họ không phải là những học giả uyên bác, hoặc những người có ảnh hưởng lớn. Họ không giàu sang, không có địa vị trong xã hội. Họ không phải là những người nghèo mạt mà chỉ là những công nhân bình thường. Chúa Giêsu đã chọn lựa những người bình thường này. Và với những người như thế Ngài đã dùng họ để làm bất cứ công tác nào.

Nhiều học giả cho rằng sở dĩ Chúa chọn những ngư phủ lành nghề như vậy là vì họ có một số đức tính thật cần thiết để có thể trở thành những tay đánh lưới người cho Chúa như Chúa nói. Những người được Chúa chọn phải có những đức tính như một người chài lưới. Họ phải là những biết kiên nhẫn, Bền chí, can đảm biết nắm bắt thời cơ, biết dùng mồi thích hợp, quảng đại v…v…

Vâng Chúa Giêsu đã chọn lựa Galilêa là miền đất được chuẩn bị kỹ lưỡng để tiếp nhận hạt giống Tin Mừng và cũng đã chọn người con người có phẩm chất đạo đức tốt để bắt đầu sứ vụ công khai của mình. Nói theo kiểu Đông phương chúng ta: quả là đã đủ mọi yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hòa…

B. Phần chúng ta, chúng ta cũng hãy làm môn đệ cho Chúa. Chẳng thiếu gì việc, cũng chẳng thiếu gì cách chúng ta có thể tiếp tục công việc của Chúa ngay trong xã hội  hôm nay. Cha xin đan cử một thí dụ:

Ngày nọ, một nhà truyền giáo bên Ấn Độ gặp một cụ già xin ngài ban phép rửa tội.

  • Thế cụ có biết đạo công giáo không ?
  • Không!-cụ già trả lời-.
  • Nhưng tại sao cụ lại muốn rửa tội ?

– Cha có biết Linh Mục Savériar không ? – cụ già lương dân hỏi -, Cha biết không, chính vị này đã dạy con, cách đây vài năm, một lời cầu nguyện, và ngài xin con hãy đọc mỗi ngày. Lời cầu nguyện như sau: “ Lạy Chúa con, Chúa đã tạo nên con! Xin Chúa tha cho con, nếu con đã xúc phạm đến Người, và xin chỉ cho con con đường dẫn đưa tới Người”. Con đã đọc lời nguyện này mỗi ngày. Bây giờ, con đã già, con không còn sống được bao lâu nữa, nhưng con muốn chết trong tôn giáo của Cha Savériar tốt lành.

– Cha Savériar có nói cho cụ thêm gì khác về đạo công giáo không ?- nhà truyền giáo hỏi-.

  • Không, không có gì cả!

Chính như thế mà hạt giống nhỏ bé đã được vị tông đồ nhiệt thành gieo xưa kia trong tâm hồn của một người lương nghèo khổ sau nhiều năm đã sinh hoa kết trái!

Theo bố cục của Tin Mừng thứ tư, đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu xuất hiện trước dân chúng. Vì dân chúng chưa biết Chúa, nên Gioan Tẩy giả đã giới thiệu về Chúa cho mọi người. Gioan đã giới thiệu Chúa bằng hai hình ảnh xem ra có vẻ tương phản với nhau: Ngài vừa là Người Con yêu quý của Thiên Chúa cao sang, vừa là Người Tôi Tớ khiêm tốn thấp hèn của Thiên Chúa. Nhìn thoáng qua thì chúng ta thấy như vậy nhưng nhìn thật sâu, thật kỹ thì chúng ta thấy hai hình ảnh trên không những không đối chọi mà ngược lại còn bổ túc và soi sáng cho nhau: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa cao sang nhưng cuộc sống của Ngài ở trần gian là cuộc sống như một Người Tôi Tớ, Người Tôi Tớ tuyệt hảo bởi vì Ngài là Con Thiên Chúa ở giữa loài người. Nói một cách thật ngắn gọn thì chúng ta thấy Chúa đã sống sự cao thượng của Ngài trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài đã sống với tâm hồn cao thượng.

A. Chúa Giêsu là ai ?

1. Vâng Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang.

Điều này Gioan đã công khai làm chứng. Lời chứng của Gioan có một giá trị hết sức đặc biệt. Toàn bộ bài Tin mừng hôm nay nói lên điều đó. “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi. Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước”. Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn”.

Vâng đúng như vậy, Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang: Đấng xóa bỏ tội trần gian, Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần, Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn. Có lẽ không còn từ nào nói về Chúa Giêsu cao hơn nữa.

2. Nhưng bên cạnh hình ảnh về một Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang chúng ta lại còn thấy Gioan nói về Chúa như một Con Chiên của Thiên Chúa. Gioan đã có ý muốn nói gì khi giới thiệu về Chúa như thế ?

Chúng ta biết Thành ngữ Chiên của Thiên Chúa là một thành ngữ hết sức kỳ diệu.

Chúng ta biết thời Cựu ước trong ngày lễ Đền tội, người Do Thái bắt một con chiên đem đến cho Tư tế. Vị Tư Tế đọc một danh sách các thứ tội của dân và kêu gọi mọi người sám hối. Sau đó Tư Tế đặt tay trên đầu con dê, ngụ ý trút hết danh sách tội ấy lên đầu nó, rồi đuổi nó vào sa mạc. Con chiên ấy được gọi là con chiên gánh tội.

Khi Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Đức Giêsu là “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian”, phải chăng ngài cũng có ý cho mọi người hiểu rằng Đức Giêsu đã gánh lấy tất cả tội lỗi chúng ta.

Đức Giêsu gánh lấy và tha thứ tội lỗi chúng ta, như con chiên đã mang tội lỗi dân Do thái vào sa mạc. Thánh Gioan Tông Đồ cũng quả quyết: Chính Đức Giê-su Ki-tô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn cả tội lỗi cả thế gian nữa. (1Ga 2,2) Thánh Tông Đồ Phêrô còn nói rõ hơn: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. (1Pr 2,24). Nhưng nói như thế không có nghĩa là chúng ta đã thành thánh hết. Lý do là vì thân phận tội lỗi của chúng ta vẫn còn. Đức Giêsu muốn giúp chúng ta cải thiện thân phận ấy, dĩ nhiên là với sự hợp tác của chúng ta.

B. Chúng ta hợp tác thể nào ? 

Nói một cách thật vắn là chúng ta hãy sống như Chúa đã sống. Cuộc sống của Chúa là bài học và cũng là tấm gương cho chúng ta.

Chúng ta tự hỏi Chúa đã sống như thế nào ? Ngài đã sống sự cao thượng của Ngài trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài đã sống với tâm hồn cao thượng.

Qua Tin Mừng chúng ta thấy mặc dầu là Thiên Chúa nhưng Chúa đã sống hoà mình với mọi người. Nhưng khi sống hòa mình với mọi người chúng ta thấy Ngài vẫn luôn giữ được phẩm giá của mình là Thiên Chúa. Xin được gửi đến anh chị em một bài thơ mà tác giả là Rabindranath Tagore, một nhà văn hào được cả loài người kính nể và yêu mến. Ông đã có rất nhiều cảm nghiệm sâu xa về Chúa Giêsu mặc dù ông không phải là một người có đạo. Đây là một bài thơ ông viết ra để để mô tả về cuộc đời của Chúa, một cuộc đời cao thượng trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài vẫn giữ được tâm hồn cao thượng.

Sáng hôm nay, con được làm bạn đường cùng đi với Chúa về làng.

Con cử thắc mắc mãi: ở nhà quê thì có gì vui đâu mà lại đi tổ chức… du lịch ?

Vậy mà ngang qua một bờ đê, Chúa đã dừng lại để lội xuống ruộng, đón lấy tay cầy đằng sau con trâu gầy còm của một bác nông dân.

Rồi Chúa lại còn cùng tát nước với họ vào một mảnh ruộng khác đang khô nước.

Chúa làm một cách say mê vui vẻ trong khi nắng đã lên cao, trời nóng dần đến mức như đổ lửa…

Con cũng đành phải làm theo Chúa mà miệng thì cứ lẩm bẩm: đúng là đang đâu lại đi chuốc vào thân những vất vả cực nhọc! Rõ khổ!

Đến quá trưa, Chúa chia tay với những người dân cầy chất phác và vui tính sau khi uống một bát nước vối họ mời.

Chúa quay lại bảo con: “Nào, chúng mình về một khu ngoại thành đi!”

Con cứ ngỡ Chúa sẽ vào một quán nước có máy lạnh dành cho khách du lịch để nghỉ ngơi…

Vậy mà, vừa gặp một tốp thợ đang thi công một đoạn quốc lộ, Chúa lại đã ghé vào, xắn tay áo xin cùng làm với họ.

Chúa cũng xúc đá, cũng đội sọt cát trên vai hoặc lăn một thùng hắc ín đến lò nấu dã chiến bên vệ đường…

Cứ thế, vừa làm Chúa vừa trò chuyện thân tình với họ, mặc cho mồ hôi muối túa ra ướt đẫm lưng áo.

Con lại cũng đành phải làm theo Chúa, cố tình chọn một việc nhẹ nhất cho đỡ mệt, hơi sức đâu mà đánh liều với thứ công việc khổ sai như thế.

Xập tối Chúa chia tay với cánh thợ bộc trực và gân guốc sau khi rít một điếu thuốc rê với họ.

Chúa lại bảo con đi tiếp đến một thị trấn nhỏ gần đó.

Con cứ ngỡ phen này Chúa sẽ tìm một khách sạn để nghỉ ngơi và dùng cơm tối,

Đói bụng lắm rồi còn gì.

Thế mà khi ngang qua một vùng ven thị trấn, Chúa lại bảo con ghé vào thăm một làng phong.

Ở đây, Chúa đã ngồi xuống bên những bệnh nhân tật nguyền, xúc cơm đổ thuốc, lau mặt thay áo cho họ, mặc cho những vết thương lở loét của họ bốc lên mùi hôi tanh ghê sợ.

Chúa còn đến tận giường để an ủi nâng đỡ một cụ già đang hấp hối sau đời gánh chịu căn bệnh đau đớn cùng nỗi tủi nhục, bị con cháu và xã hội xua đuổi.

Con cũng đành phải làm theo Chúa, nhưng chỉ là phụ giúp giặt khăn rót nước hoặc lấy bông băng đưa cho Chúa…

Mãi đến khuya, Chúa mới chịu chia tay với những người phong cùi sau khi vuốt mắt cho cụ già vừa qua đời.

Về lại thành phố, con đang thầm lo: không biết Chúa còn định đi những đâu nữa đây, khổ quá đi mất!

Du lịch mà cứ như là một chuyến công tác xã hội từ thiện, biết vậy, hôm nay con đã chẳng nhận lời theo Chúa đi lang thang vạ vật như thế này…

Thế rồi, ngang qua một nguyện đường nhỏ bé của một dòng tu, Chúa bảo con: “Mình cùng vào cầu nguyện một chút nhé”

Con thở phào yên tâm.

Nhưng tối khuya thế này, ai mà mở cửa cho vào ?

Không ngờ Chúa dừng lại trước cánh cửa lớn nhà thờ, quỳ xuống thềm và bắt đầu cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha của Người: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha giấu không cho các người khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha… “

Đến lúc này thì con mới chợt hiểu tất cả để lặng lẽ quỳ xuống bên Chúa, lòng bật lên lời tâm nguyện:

“Con cố gắng cúi mình khiêm nhu, xuống dấu chân nơi Ngài dừng lại nhưng sâu hút vô ngần Ngài ơi, vẫn không sao chạm được…

Vâng sống như Chúa Giêsu là sống như thế: Cao cả trong những cái tầm thường nhưng tầm thường với một tâm hồn cao cả.

Xin được kết cũng bằng một bài thơ khác của Tagore.

Lạy Thiên Chúa, đây lời con cầu nguyện: Xin tận diệt, tận diệt trong tim con mọi biển lận tầm thường. Xin cho con sức mạnh thản nhiên để gánh chịu mọi buồn vui. Xin cho con sức mạnh hiên ngang để đem tình yêu gánh vác việc đời. Xin cho con sức mạnh ngoan cường để chẳng bao giờ khinh rẻ người nghèo khó, hay cúi đầu khuất phục trước ngạo mạn, quyền uy. Xin cho con sức mạnh dẻo dai để nâng tâm hồn vươn lên khỏi ti tiện hằng ngày. Và cho con sức mạnh tràn trề để nâng mình theo ý Ngài luôn. Amen.

Chúng con thân mến,

Trong suốt mấy tuần lễ qua, chúng con đã được nghe nói nhiều về Chúa Giêsu. Nào là việc Chúa Giáng sinh làm người, các đạo sĩ đến thờ lạy Chúa, nào là việc Chúa sống ở Nazareth. Hôm nay khi xuất hiện lần đầu tiên trong cuộc đời loan báo Tin Mừng thì Chúa Giêsu được thánh Gioan Tẩy Giả long trọng giới thiệu Chúa cho mọi người bằng những lời hết sức cao đẹp và trang trọng sau đây “Ðây là Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa bỏ tội trần gian. Chính Người là Ðấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi. Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Israel, tôi đến làm phép rửa trong nước”. Và ông Gioan còn làm chứng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Ðấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai thì người đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Thánh Thần”. Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Ðấng Thiên Chúa tuyển chọn”.(Ga 1,29-33)

Thế chúng ta tự hỏi: Chúa Giêsu, được giới thiệu một cách trân trọng như thế để làm gì ? thì câu trả lời chúng con đã được nghe trong bài sách thánh thứ I trích từ sách Ngôn sứ Isaia: “Này Ta đặt Ngươi làm ánh sáng các dân tộc để ơn cứu độ của Ta tràn lan khắp địa cầu”.

Như vậy chúng con thấy, Chúa Giêsu đã không tự mình xuống thế … mà là được Thiên Chúa Cha sai Ngài xuống thế.

Vậy thì cha hỏi: Người được sai đi, cử đi là người làm theo ý muốn của ai ?

Chắc không phải của mình mà là của Người sai mình đi.

Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy rõ Chúa làm theo ý của Chúa Cha là Đấng sai Ngài mà ý của Đấng sai đã Ngài thì thật rõ ràng đó là đem Ơn Cứu độ xuống cho trần gian như lời Ngôn sứ cha đã nói trên.

Cha lấy một ví dụ, Dandolo là một chàng trai tuấn tú của thành Venise. Vì yếu thế thành Venise phải chịu lệ thuộc hoàng đế Bysance. Dandolo được cử tới Byzance để ký một hiệp ước. Hoàng đế Byzance trao cho chàng một bài luận mới đã được dọn sẵn để chàng ký. Dandolo đọc kỹ và người ta thấy nét mặt chàng có vẻ giận dữ và tái lại. Chàng nghĩ ký như thế này sẽ là nhục cho quê hương và mất hết danh dự của mình, cho nên chàng trẻ liền nói với Byzance

– Tôi không ký.

Hoàng đế bất mãn… nhưng sau cũng ôn tồn đưa ra những báu vật để dụ dỗ. Thấy báu vật, Dandolo bỉu môi khinh bỉ .

Hoàng đế tức giận liền đe dọa.

Dandolo chỉ cười.

Tức quá Hoàng đế la lên:

– Tên khốn nạn, nếu ngươi không làm theo ý ta, ta sẽ cho trói ngươi.

Dandolo làm thinh

Người ta đem sắt nung đỏ ép sát vào mi mắt chàng

Chàng làm thinh.

Thịt cháy khét

Chàng làm thinh

Sau khi bị hành quyết, Dandolo dõng dạc tuyên bố:

– Quê hương đã được giải cứu.

Tại sao Dandolo can đảm như thế. Tại vì chàng biết quê hương sai ông đi để làm vinh dự cho quê hương chứ không nhục mạ quê hương và quả thực ông đã thỏa mãn được mong mỏi của quê hương

Còn Chúa Giêsu thì như thế nào chúng con ?

Còn hơn thế nữa. Kinh Thánh đã nói về Ngài: “Này là Con Ta, Ta hài lòng vì con”.

Thiên Chúa Cha sai Chúa Giêsu xuống trần gian để đem ơn cứu độ cho trần gian. Ngặt một nỗi là Thiên Chúa Cha lại không muốn cho con của Người làm công việc đó trong dễ dãi… mà là trong đau khổ. Chúng con nhớ lại cảnh nơi vườn cây dầu: Khi phải đứng trước một thử thách quá lớn lao. Phải chết đau khổ để chuộc tội mang ơn cứu độ cho loài người – Sức yếu đuối của con người làm cho Chúa Giêsu cảm thấy sợ. Nhưng ý của Thiên Chúa Cha bao giờ cũng phải được tôn trọng.

– “Lạy Cha, nếu có thể được thì xin cất cho con chén này nhưng xin đừng theo ý con mà là ý của Cha”

ý của Chúa Cha không muốn mà muốn cho sẵn sàng đón nhận … trong cả một cái chết đau thương … còn hơn cái chết của Dandolo nhiều.

2. Nhưng Chúa Giêsu chết như vậy để làm gì chúng con ?

Đây chúng con nghe lời thánh Gioan tẩy giả (Ga 1,29- 34): Để xóa tội trần gian

Trong một Nhà thờ ở Tây Ban Nha, người ta tôn kính một cây Thánh Giá cổ xưa mà cánh tay phải của Chúa tách rời khỏi đinh. Cây Thánh Giá này có lịch sử như sau:

Ngày nọ, một tù nhân “gạo cội” đến xưng thú tội mình dưới chân Thánh Giá này với tất cả dấu hiệu của một sự thống hối chân thật, Cha giải tội do dự ban phép Giải Tội cho ông ta vì các tội của ông nhiều và nặng. Tội nhân cầu xin sự tha thứ.

– Tôi ban phép Giải Tội cho ông. -vị Linh mục nói-. Tuy nhiên ông không được tái phạm nữa nhé!

Tội nhân xin hứa và giữ lời hứa trong một thời gian. Nhưng rồi ông yếu đuối và sa ngã lại. Lòng thống hối thúc đẩy ông đến tòa Giải Tội. Vị Linh mục bảo ông:

– Lần này thì tôi không ban phép Giải Tội cho ông đâu!

– Con thống hối -Tội nhân đáp lời vị Linh mục- con rất chân thành xin đoan hứa với Cha, nhưng con yếu đuối. Xin hãy tha thứ, xin tha thứ cho con!

Cha Giải Tội tha thứ và nói thêm:

– Đây là lần cuối cùng đó nhé!

Một thời gian khá lâu sau đó, một phần do thói quen, một phần vì yếu đuối, ông ta lại rơi vào vòng tội lỗi.

– Bây giời thì dứt khoát -vị Linh mục bảo ông- Ông luôn rơi lại trong cùng một lỗi. Sự thống hối của ông không chân thành.

– Thưa Cha, con rất chân thành thống hối. Con sa ngã vì con yếu đuối. Con thẳng thắn, chân thực, nhưng con yếu đuối.

Vào chính lúc đó người ta nghe như có tiếng ai khóc. Tiếng động phát xuất từ cây Thánh Giá: Một cánh tay rời khỏi đinh, giơ lên và vạch trên đầu tội nhân dấu hiệu sự tha thứ, đồng thời có một tiếng nói: “Ngươi, ngươi không đổ máu ngươi cho nó!”

Con Thiên Chúa xuống trần gian. Con Thiên Chúa đã chết đề đền tội thay cho con người. Đấng tạo hóa chết để đền tội cho tạo vật. Việc này có cao cả và kỳ diệu không chúng con. Cha tưởng đây là một sự hy sinh quá cao cả loài người chẳng ai dám nghĩ tới thế mà Thiên Chúa vì yêu thương con người đã làm như thế.

Chúng ta phải cám ơn Chúa. Chúng ta xin Chúa cho chúng ta được sống trung tín với tình yêu của Ngài.

Tin mừng hôm nay nhắc tới ba dạng Phép rửa khác nhau:

1. Phép Rửa thứ nhất là Phép Rửa bằng nước. Đây là Phép Rửa của Gioan. Phép rửa của Gioan là Phép Rửa sám hối.

Đây là một dấu cho thấy dân chúng ăn năn tội lỗi của họ và muốn tẩy xóa nó đi.

Phép rửa này là bước đầu tiên trong một cuộc hành trình dài. Nó chỉ là một dấu hiệu, một khởi điểm.

Gioan đã làm sáng tỏ điều này khi ông nói: “Tôi làm phép rửa bằng nước để làm dấu hiệu cho thấy anh em đã ăn năn sám hối – Nhưng có một Đấng đến sau tôi sẽ rửa anh em bằng Thánh Linh và bằng Lửa. Ngài cao trọng hơn tôi. Tôi chẳng xứng đáng cúi xuống cởi dây dép cho Người” (Mt 3,11)

Nói một cách khác, theo Gioan thì Phép rửa của ông chỉ là chuẩn bị cho Phép rửa bằng Thánh Linh của Đức Giêsu. Vào cuối đời Chúa đã nói với các môn đệ như thế này: “Các con hãy đi đến với mọi người trên khắp thế gian, rao giảng cho họ về Nước Trời, rửa tội cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần (Mt 28,19).

2. Phép rửa thứ hai là phép rửa của Chúa Giêsu. Đây là Phép Rửa tái sinh. Phép rửa này ban cho người được rửa một đời sống mới. Thánh Phaolô đã giải thích về đời sống này cho những người vừa được rửa tội như sau: “Khi được rửa tội, anh em được an táng với Đức Kitô và trong phép rửa anh em cũng được sống lại với Đức Kitô. Anh em đã từng bị chết về mặt tâm linh nhưng giờ đây Thiên Chúa đã mang anh em đến nguồn sống cùng với Đức Kitô” (Cl 2,12-13)

Như vậy qua Phép Rửa này, Chúa Giêsu chia sẻ cho những người được rửa đời sống thần linh của Ngài. Điều này dẫn chúng ta đến phép rửa thứ ba: Phép rửa thánh Gioan làm cho Chúa Giêsu.

3. Phúc âm hôm nay mô tả thật rõ những sự kiện xảy ra khi Chúa Giêsu đến xin Gioan làm phép rửa cho Ngài: “Bầu trời mở ra, rồi Thánh Thần hiện xuống rồi sau đó một giọng nói từ trời vọng xuống: Đây là Con yêu dấu của Ta. Con đẹp lòng Ta”

Nếu phải đặt cho phép rửa này một tên thì ta có thể gọi đây là phép rửa Mặc khải. Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta qua hình ảnh bầu trời, Thánh linh và giọng nói được vang ra.

a- Trước hết là hình ảnh bầu trời được mở ra.

Ngày xưa người Do thái tin rằng Thiên Chúa sống ở trên một góc trời nào đó bên trên bầu trời bao bọc trái đất như một bức chắn. Nếu Thiên Chúa muốn đi vào trái đất thì Thiên Chúa phải đi qua bức chắn này. Tiên tri Isaia cũng cùng một quan niệm như thế khi ông nói: “Xin Chúa hãy xé toang bầu trời ra và xuống cứu dân của Người (Is 64,1).

Hình ảnh bầu trời được mở ra có nghĩa là Thiên Chúa đã nghe lời cầu xin của nhà tiên tri và đã xuống thế gian. Như thế là một thời đại mới đã bắt đầu: thời đại Thiên Chúa xuống để cứu dân của Người.

b- Bước qua hình ảnh thứ hai: Thánh thần Chúa lượn quanh trên Đức Giêsu. Hình ảnh này thật giống với hình ảnh trong sách Sáng Thế Ký: “Thần khí Chúa bay lượn là đà trên mặt nước (St 1,2) vào lúc Chúa khởi đầu việc tạo dựng. Tại sao lại có một sự trùng hợp như thế. Đây không phải là ngẫu nhiên. Ở đây Thiên Chúa muốn nói với chúng ta: Thời đại mới mà Ngài xây dựng trên trần gian là một cuộc tạo dựng mới. Nói cách khác đây là một cuộc tái tạo lại trần gian.

c- Sau hết là việc Thiên Chúa xác nhận Chúa Giêsu là Con của Người: “Đây là Con yêu dấu của Ta (Mt 3,17). Qua lời xác nhận này Thiên Chúa muốn giới thiệu với con người về Chúa Giêsu như một “Adam mới”

Thánh Phaolô đã khai thác ý tưởng này rất hay như sau: “Con người đầu tiên tức Adam đã được tạo dựng nên như một vật sống. Còn Adam cuối cùng tức là Đức Giêsu là Thần ban sự sống… Adam thứ nhất đến từ đất – Adam thứ hai đến từ trời…..Như chúng ta đã mặc lấy hình ảnh người bởi đất mà ra (tức Adam thứ nhất) thế nào thì chúng ta cũng mặc lấy hình ảnh của người từ trời mà đến như thế. Người từ trời đây chính là Adam thứ 2, tức là Đức Giêsu (1Cor 15,45-49).

Như vậy thì ý tưởng đã rõ. Phép rửa Chúa Giêsu chịu là Phép rửa Mặc khải. Nó báo cho con người biết là một kỷ nguyên mới đã bắt đầu. Kỷ nguyên này là một cuộc tạo dựng mới với sự có mặt của Chúa Giêsu Con Thiên Chúa như một Adam mới của nhân loại.

Như vậy là chúng ta đang được sống trong một kỷ nguyên mới trong chương trình sáng tạo của Thiên Chúa.

Bởi thế, thánh Phaolô nói với chúng ta: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới”. (Cl 3,1-2)

“Sống đích thực của anh em là Đức Kitô và khi Ngài hiện ra thì anh em cũng được xuất hiện với Ngài để được cùng chia sẻ vinh quang với Ngài” (Cl 3,1-4).

Một hôm duyệt binh, vua Alexandre thấy một anh bộ đội có vẻ yếu ớt và mang một cây gươm rỉ sét, Ngài đứng lại và hỏi tên, hắn thưa mình là Alexandre.

Nghe nói, vua liền nổi giận, nhìn thẳng vào con người lười biếng đó và bảo:

– Mày một là phải đổi tên, hai là phải đổi tính nết.

Alexandre là một ông vua trẻ trung, can đảm, hoạt động mà tên lính của Alexandre thì như vậy vua coi là một điều xấu hổ.

Mang danh hiệu Kitô hữu, có đạo Đức Chúa Giêsu mà cách ăn ở không có gì giống Chúa, thì chỉ làm xấu cho đạo. Nhiều khi trong đời sống người có đạo còn thua kém người bên lương: ăn gian, nói dối, lỗi đức công bình, bác ái…

Xin được kết bằng lời của thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô: “Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện (Ep 4,17.24).

Thiếu nhi chúng con yêu quí,
1. Thánh Matthêu vừa thuật lại cho chúng ta một câu chuyện hơi lạ. Chuyện Chúa Giêsu đến xin ông Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Ngài

Cha hỏi chúng con: Chúa Giêsu có cần phải làm như vậy không ?
Chắc chắn là không rồi.

Tại sao thì chúng con đã biết câu trả lời rồi. Phép Rửa của Gioan Tẩy Giả là Phép Rửa Sám Hối. Phép Rửa cần cho những người có tội. Chúa Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa. Chúa đâu có tội gì mà phải sám hối đâu.

Vậy thì tại sao Chúa lại đến với ông Gioan ngày hôm nay xin ông làm phép Rửa cho Ngài ?

Chúng ta hãy nhìn vào cách Chúa làm lúc đó, chúng ta sẽ có câu trả lời. Lúc Gioan một mực can Chúa khi ông nói: “Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi!” thì Chúa đã trả lời: “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (Mt 3,15)

Thế nào là giữ trọn Đức công chính ? Thánh Phaolô trong thư gửi Giáo đoàn Rôma bảo được Thiên Chúa coi là công chính, không phải vì nghe biết Lề Luật, nhưng là vì tuân giữ Lề Luật (Rm 2,13) Vậy lề luật của Chúa Giêsu muốn tuân giữ ở đây là Lề Luật nào ? Thưa là Ý muốn của Thiên Chúa Cha, mà ý muốn của Thiên Chúa Cha khi cho Chúa Giêsu xuống trần gian là để cứu chuộc loài người là gì nếu không phải là quên đi địa vị của mình trở nên giống như mọi người để từ trong loài người Chúa thực hiện việc cứu chuộc ấy.

Thánh Phaolô trong thư gửi Giáo đoàn Philipphê đã viết rất hay về vấn đề này: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế (Phil 2,5-7)

Cha kể cho chúng con câu chuyện vui này: Đây là câu chuyện tưởng tượng nhưng rất phù hợp với ý nghĩa ở đây: Một người kia bị rơi xuống hố tối tăm. Anh ta cố gắng leo lên, để ra khỏi cái hố, nhưng lại bị tụt xuống. Tình cờ Đức Khổng Tử đi qua, ngài nhìn xuống hố thấy anh bèn thương hại bảo:

– Thật tội nghiệp cho con, nếu con chịu khó nghe lời ta dạy bảo, thì con đâu có bị rơi xuống hố như vậy!

Nói rồi ngài lại tiếp tục bước đi. Sau đó Đức Phật Thích Ca đi tới. Ngài cũng nhìn xuống hố thấy anh và nói:

– Thật tội nghiệp con, con hãy tự cố gắng leo lên đi, nếu leo lên được ta sẽ cho đi theo ta.

Nói rồi Đức Phật lại tiếp tục bước đi.

Sau cùng Chúa Giêsu đi tới. Ngài nhìn xuống hố rồi nói:

– Thật tội nghiệp cho con.

Rồi Ngài nhảy xuống hố, nâng anh lên, và giúp cõng anh trên lưng đưa ra khỏi hố.

Đức Khổng Tử chỉ dạy điều hay lẽ phải, Đức Phật Thích Ca đã khám phá ra con đường giải thoát và kêu gọi hãy đi theo Ngài nhưng mỗi người hãy tự sức mình mà đi chứ Ngài không giúp đỡ được gì cả. Còn Chúa Giêsu, Ngài đã sẵn sàng làm người, chịu đau khổ và chịu chết để cứu chuộc ta khỏi hố sâu tội lỗi.

Chúng ta hãy nhìn ngắm Ðức Giêsu bên bờ sông Giođan. Ngài đứng xếp hàng cùng với dân tộc của Ngài. Ngài trà trộn với những tội nhân muốn sám hối. Ngài chấp nhận dìm mình xuống cùng một dòng sông. Hỏi có ai nhận ra Ngài là Chiên Thiên Chúa, là Ðấng xóa tội trần gian không ?

Ðấng thánh thiện lại khiêm nhu đứng bên kẻ tội lỗi. Ðấng sẽ làm phép Rửa trong Thánh Thần nay lại xin được chịu phép rửa trong nước. Đó là một hành vi khiêm hạ tột cùng nhất là khi được dìm mình xuống nước trước mặt mọi người.

Hơn nữa khi nhìn Ðấng Cứu Ðộ cúi mình xin chịu phép rửa, Chúa cho chúng ta chúng ta hiểu thế nào là đồng hành và liên đới.

Ðồng hành với người khác đòi ta phải đi chậm lại.
Liên đới với người khác đòi ta phải nhỏ bé đi.
Ðồng hành đòi ta có chung một tâm tình với người khác.
Ðấng vô tội nếm được cái ray rứt của tội nhân và cảm được nỗi khát khao đổi đời của họ.
Ðức Giêsu đã đồng hành với con người cho đến chết.

Ngài đã chia sẻ thân phận của người nghèo, người khổ đau, người bị bỏ rơi, bị thất bại, bị kết án và cả thân phận khắc khoải của tội nhân.

Mầu nhiệm Nhập Thể là mầu nhiệm đồng hành.
Thiên Chúa làm người để hiểu được con người.
Ngài cúi xuống để nâng con người lên.
Chúa đồng hành và liên đới với con người để làm gương cho mọi người biết bắt chước noi theo.
Thế nhưng thử hỏi con người hôm nay đã biết sống với nhau như Chúa muốn chưa ?

Chúng con hãy nghe câu chuyện này:

Đây là câu chuyện do một nhật báo xuất bản tại Manila, đăng tải, một câu chuyện lạ đời nhưng có thật, do hãng UPI phổ biến. Đó là câu chuyện về ông hoàng: Mohamét Alfassi.

Ông có một nơi nghỉ mát rộng 02 ha nằm bên bờ Đại Tây Dương thuộc bang Florida, Hoa Kỳ. Khi hay tin có 12 con mèo của thành phố New Jersey bị chính quyền địa phương đem giết, ông hoàng này lên tiếng sẵn sàng nhận nuôi 12 con mèo đó. Thế là 12 con mèo được gởi bằng máy bay từ New Jersey xuống Miami, rồi được đưa về nơi nghỉ mát của ông. Ông này dành riêng cho chúng một căn phòng để sinh sống và một căn phòng khác gần bên để chúng được dạo chơi, nô đùa.

Hãng tin UPI, nhân dịp này có kể thêm một “thành tích” khác nữa của ông hoàng đối với những con mèo đó.

Vào năm 1986, ông đã dành trọn một ha đất tại nơi nghỉ mát của ông và bỏ ra hai triệu rưỡi để xây một nhà thương chăm sóc sức khỏe cho những con mèo được ông nuôi tại đây. Nhà thương mèo này được giao cho một bác sĩ thú y và một nhóm y tá coi sóc.

Chúng ta nghĩ gì về hành động của ông hoàng Mohamét Alfassi ?

Hiện trên thế giới có hàng chục triệu người không có nơi ăn chốn ở xứng đáng. Thế mà ông Hoàng này đã bỏ ra hàng triệu dollars để chăm sóc cho một lũ mèo. Phải chăng đây là những dấu chỉ cho thấy nền văn minh đang bắt đầu xuống dốc ? Bởi vì trong đó chỉ có những người nghĩ đến sở thích riêng của mình, không màng chi đến sự liên đới hoặc sự trợ giúp cho những người anh chị em.

Phải chăng đôi khi chúng ta cũng có hành động tương tự khi chúng ta quý trọng các của cải vật chất hơn những người anh chị em sống bên cạnh chúng ta đang cần chúng ta giúp đỡ, trợ lực ?

Khi Ðức Giêsu bước xuống sông Giođan để chịu phép rửa. Người đã xuống chỗ thấp nhất không chỉ về chiều sâu theo không gian địa lý, mà còn về chiều sâu tâm lý xã hội. Bước xuống để Gioan Baotixita làm phép rửa, Ðức Giêsu đã hòa mình vào dòng người tội lỗi cần thống hối ăn năn. Tuy đến để cứu độ người tội lỗi, nhưng Ðức Giêsu không cho mình cái quyền đứng trên kẻ tội lỗi. Người đã hạ mình xuống ngang hàng với họ, liên đới với họ và trở nên anh em của họ.

Chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì hồng ân cao cả này. Amen.

Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng lễ Chúa Hiển Linh.

Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe nói cho chúng ta biết khi Chúa Giêsu giáng sinh trong hang đá Belem thì có một ngôi sao lạ xuất hiện trên bầu trời.

Hẳn là đã có nhiều người thấy ánh sao lạ đó, nhưng tại sao chỉ có mấy đạo sĩ đã nhận ra đó là “tín hiệu” loan báo Chúa Cứu thế giáng sinh.

Con trẻ sinh ở Bêlem hẳn nhiều người đã thấy hoặc đã biết, nhưng sao chỉ có mấy đạo sĩ nhận ra rằng trẻ sơ sinh đó chính là Con Thiên Chúa làm người. Bởi thế họ quỳ xuống dâng lễ vật và thờ lạy. Tại sao thế?

1. Kẻ Thấy Người Không

Đứng trước cùng một sự kiện mà có kẻ thấy người không, kẻ tìm ra ý nghĩa người không. Vậy thì làm sao mà cắt nghĩa được sự khác biệt đó?

Nguyên nhân gây ra khác biệt là do một bên nhìn bằng con mắt thường một bên nhìn bằng đức tin. Bên nhìn bằng con mắt thường thì chỉ thấy những việc thông thường, còn bên nhìn bằng con mắt đức tin thì nhờ đức tin mà khám phá ra được thực chất và ý nghĩa ở bên trong.

Một buổi trưa hè nóng bức, thánh Phanxicô Assisi sau khi đi đường mệt nhọc đã tìm được một chỗ nghỉ chân rất thoải mái. Chỗ đó là dưới một gốc cây có tàng lá che mát, bên dưới là một dòng nước trong lành mát rượi. Thánh nhân rửa tay rửa mặt xong xuôi rồi ngả mình dưới tàn lá. Bỗng dưng người bật khóc. Vì người nghĩ từ không biết bao đời, Chúa đã biết hôm nay mình đến đây, Chúa biết mình mệt, cho nên Chúa đã đặt sẵn ở đây một bóng mát và một dòng suối để cho mình nghỉ ngơi.

Cái nhìn của bậc thánh nhân đã nhận ra những điều mà người phàm không bao giờ thấy được.

Sự vật thay đổi diện mạo và ý nghĩa tùy theo cách nhìn và mức độ quan sát của mỗi người. Cùng một giọt máu nếu nhìn bằng mắt thường thì chỉ thấy màu đỏ, còn quan sát bằng kính hiển vi thì có thể đếm được hồng cầu và bạch cầu. Đức tin cũng giống như một thứ kính hiển vi. Nó giúp cho người ta thấy rõ hơn, lớn hơn, thật hơn. Bởi thế đức tin là một sự khám phá, một cái nhìn tinh tế theo chiều sâu, một thứ ánh sáng cực mạnh dọi vào sự vật giúp ta nhìn thấy tận bên trong. Chính vì các đạo sĩ có lòng tin nên đã nhận ra Con Thiên Chúa trong khi những người khác chỉ thấy một trẻ thơ.

2. Kinh Nghiệm Nội Giới

Vậy thì đức tin có phải là cái gì hoàn toàn chủ quan không? Người tin có phải chỉ là một người bị ám ảnh bởi một đối tượng do chính mình tưởng tượng ra?

Đức tin thật ra không hoàn toàn khách quan mà cũng không hoàn toàn chủ quan.

Không hoàn toàn khách quan vì những điều người tín hữu tin không thế cân, đong, đo, đếm được. Không thể chứng minh bằng lý luận như một bài toán hay một định luật khoa học, không thế viết thành công thức đưa vào máy điện toán để kiểm chứng. Tin là một xác tín cá nhân chỉ chắc chắn cho chính người tin.

Nhưng đức tin cũng không hoàn toàn chủ quan vì không phải chỉ có một người tin nhưng hằng bao nhiêu tỷ người thuộc các thế hệ cùng tin. Và những người tin này đều lành mạnh, tỉnh táo, sáng suốt, trong đó có biết bao nhiêu nhà bác học hàng đầu của thế giới. Ở thế kỷ XIX, trong số 432 nhà bác học lớn đã có tới 357 Kitô hữu.

Thực ra đức tin là một thứ kinh nghiệm nội giới độc đáo có tính riêng tư. Kinh nghiệm này, mình thấy rõ, thấy thật, mình cảm nghiệm được, nhưng hầu như không thể truyền đạt giải thích cho người khác, chỉ mình mình biết.

Trong lãnh vực tôn giáo, mỗi người phải cảm nghiệm cho mình bằng tâm hồn. Tự chúng, những thực tại tôn giáo không thế chứng minh được, lý lẽ nào cũng chỉ là gợi ý có tính thuyết phục tương đối. Vì thế mới cần đến chứng tá đời sống. Chính đời sống sẽ biện minh cho những gì không thế giải trình bằng lý luận.

Đức tin cũng giống như cảm hứng và cái nhìn của nghệ sĩ. Nghệ sĩ hơn người ở chỗ cảm thấy cái đẹp, nhìn thấy cái đẹp, nhận diện được cái đẹp ở những nơi, vào những lúc mà người thường chẳng thấy gì cả. Không thể nói người nghệ sĩ bịa đặt ra một cái gì thực ra không có, nhưng phải nhìn nhận rằng tâm hồn không có tính nghệ sĩ là tâm hồn thiếu nhạy bén. Người có đức tin giống nghệ sĩ ở chỗ tâm hồn cởi mở, nhạy cảm nên nắm bắt, lĩnh hội được cái vô hình. Tâm hồn người tín hữu bắt trúng tần số.

M. Toliver một nhà truyền giáo ở miền Tây Trung Hoa có lần gặp hai viên chức cao cấp đồng thời cũng là những Kitô hữu nhiệt thành. Một trong hai người kể rằng: trong một cuộc oanh kích, ông ta, bà vợ và đứa con gái nhỏ 6 tuổi không tìm được nơi trú ẩn, nên phải nấp dưới gầm bàn ăn. Bom nổ ngay bên, nên họ chỉ còn biết cúi đầu cầu nguyện. Khi qua cơn nguy biến, đứa bé nhìn lên thấy ảnh Chúa Giêsu, em nói:

– Ba ơi, Chúa Giêsu là nơi trú ẩn an toàn nhất, phải không ba?

3. Lòng Thành Và Ơn Thánh    

Nhưng thử hỏi bởi đâu người có đức tin lại có một cái nhìn thấu suốt như vậy? Có điều kiện nào để con người có thể có được một đức tin trong sáng như thế hay không?

Thưa có. Đó là sự thành tâm thiện chí, sự ngay thật khiêm tốn trong tâm hồn. Thiếu những điều kiện đó đức tin khó có thể nảy sinh.

Tuy nhiên dầu có tất cả những điều đó cũng vẫn chưa đủ. Còn cần có tác động của Thiên Chúa trong tâm hồn. Nguồn mạch chính của đức tin là ơn Chúa. Đức tin trước hết là một hồng ân.

Chúng ta tin. Nhưng chính Thiên Chúa làm cho chúng ta có thể tin. Chính Ngài mở lòng mở trí chúng ta để chúng ta thấy và hiểu. Đức tin là một cuộc hiển linh: Thiên Chúa tỏ mình cho chúng ta được thấy Ngài. Chính Ngài rọi ánh sáng vào lòng chúng ta và rọi ánh sáng trên mọi sự để chúng ta có thể thấy. Lời thánh vịnh 39 thật có ý nghĩa: Trong ánh sáng của Chúa chúng con nhìn thấy ánh sáng”. Mọi ánh sáng đều bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa.

Như vậy người tín hữu là người đã nhận được ánh sáng của Thiên Chúa và nhìn thấy mọi sự trong và nhờ ánh sáng của Thiên Chúa.

Cũng như các đạo sĩ, người tín hữu đã được Thiên Chúa mở lòng mở trí, đã bắt được ánh sáng của Thiên Chúa, đã được đưa vào thế giới mới của Ngài. Phải gọi ơn này là gì? Gọi là ơn trời biển thì cũng chưa nói được gì về cái phúc của mình. Hãy tri ân và đừng bao giờ coi thường phúc đó. Trái lại hãy sống trọn niềm tin của mình, thể hiện niềm tin đó trong cuộc sống giống như các đạo sĩ. Sau khi khám phá ra Chúa, cuộc đời họ đã biến đổi hoàn toàn và cuộc sống của có thật nhiều niềm vui.

Ernest Gordon có viết một quyển sách tựa đề “Ngang qua thung lũng sông Kwai”, trong đó ông trích dẫn một mẩu chuyện có thật xảy ra tại một trại tù binh Nhật bổn dọc bờ sông Kwai trong thế chiến thứ hai. nơi đây 12 ngàn tù binh đã bị chết vì bệnh tật và bị đối xử tàn tệ trong khi họ phải xây dựng một tuyến đường xe lửa.

Đám đàn ông bị cưỡng bức lao động dưới cơn nóng đôi khi lên đến 49oC. Đầu trần, chân đất họ vác từng thúng đất đá trên vai để xây cho xong toàn bộ tuyến đường. Họ chỉ mặc mỗi manh áo rách và nằm ngủ trên mặt đất không chăn chiếu. Thế nhưng kẻ thù khủng khiếp nhất đối với họ không phải là đám lính Nhật hay cuộc sống gian khổ mà lại là chính bản thân họ.

Theo lời kể của Gordon, vì quá sợ tụi lính Nhật, nên đám tù nhân đã bị mắc chứng hoang tưởng. Họ lấy luật rừng cư xử với nhau. Đám lính gác cười nhạo khi nhìn thấy những người lính từng kiêu hãnh biết bao giờ đây đang phá hoại lẫn nhau.

Thế rồi một điều khó tin đã xảy ra. Hai tù nhân nọ tổ chức cho các bạn tù thành lập những nhóm học hỏi Thánh kinh. Và qua việc học hỏi Thánh Kinh, dần dà đám tù nhân khám phá ra Chúa Giêsu đang sống d0ộng giữa họ, vì Ngài đã từng không có chỗ gác đầu vào ban đêm, Ngài đã từng chịu đói khát, Ngài từng bị phản bội, từng nếm roi vọt trên lưng như họ.

Thế là tất cả những gì liên quan đến Chúa Giêsu, về con người của Ngài, về những gì Ngài nói, những gì Ngài làm bắt đầu mang đầy ý nghĩa và trở nên sống động đối với họ. Đám tù không còn cho rằng họ là những nạn nhân của một tấm bi kịch độc ác nữa; họ không còn chỉ điểm, không còn phá hoại lẫn nhau nữa. Họ biểu lộ sự hoán cải rõ rệt nhất trong những lời cầu nguyện. Họ bắt đầu cầu nguyện cho nhau nhiều hơn cho chính mình, nếu có xin gì cho riêng mình thì họ chỉ xin được nới lỏng tự do để đến bên nhau. Dần dà, cả trại đã được biến đổi, đến nỗi không phải chỉ đám lính Nhật mà cả các tù binh ấy cũng phải ngạc nhiên.

Thiếu nhi chúng con yêu quý,

Cha đố chúng con hôm nay là lễ gì?

– Lễ Ba vua….Lễ Hiển linh.

– Chúng con trả lời rất hay, nhưng cha hỏi tiếp: Tại sao lại gọi là lễ Ba Vua? Tại sao lại gọi là lễ Hiển linh?

– ???.

+ Đây cha cắt nghĩa cho chúng con.

Lễ này ngày xưa người ta hay gọi là lễ Ba Vua. Người ta cho rằng lúc Chúa Giáng Sinh tại Belem thì có Ba Vua từ phương Đông tìm đến để thờ lạy. Nhưng ngày nay với những phương tiện nghiên cứu tốt hơn và sâu xa hơn người ta thấy đây không phải là các vua chúa trần gian như người ta vẫn hiểu mà thực ra đó là các nhà chiêm tinh chuyên nghiên cứu về những vấn đề tâm linh của con người. Các ngài là những nhà thông thái, có tâm hồn tìm kiếm những điều mới lạ. Các ngài thấy trên bầu trời có một ngôi sao lạ xuất hiện. Ngôi sao lạ xuất hiện trên bầu trời. Chẳng thiếu gì người đã nhìn thấy ngôi sao lạ nhưng chẳng mấy ai để ý. Duy chỉ có mấy nhà chiêm tinh khi nhìn thấy và các ngài đã tự hỏi: Phải chăng đây là tín hiệu loan báo cho mọi người biết về một vị Cứu thế của loài người sinh ra và các ngài đã bắt đầu cuộc tìm kiếm.

Nói đến đây cha thấy việc Thiên Chúa làm quả thực thật lạ lùng. Để loan báo cho loài người biết việc Chúa Giêsu Ngôi Hai Thiên Chúa sinh ra làm người, Thiên Chúa đã không dùng một biến có kinh thiên động địa nào mà chỉ nhẹ nhàng dùng một tạo vật rất nhỏ bé trên bầu trời để làm việc này. Và đây là cách thức Chúa vẫn thường dùng trong lịch sử ơn cứu độ.

Chúng con hãy nghe câu chuyện này:

Một học giả người Pháp nọ băng qua sa mạc. Ông dẫn theo vài người Ả Rập làm hướng đạo. Khi mặt trời lặn, một người trong bọn trải xuống đất một tấm thảm và cầu nguyện.

– Ngươi làm gì thế?-vị học giả hỏi-

– Tôi cầu nguyện.

– Ngươi cầu nguyện ư? Ngươi cầu nguyện cùng ai?

– Allah, Thiên Chúa.

Nhà thông thái mỉm cười.

– Ngươi đã bao giờ thấy Thiên Chúa chưa?

– Chưa!

– Vậy thì ngươi là một kẻ điên nếu tin vào một Thiên Chúa mà ngươi không bao giờ thấy, không bao giờ nghe và không bao giờ đụng chạm đến.

Người Ả-Rập không trả lời gì. Sáng sớm hôm sau, trước khi mặt trời mọc, nhà thông thái lúc ra khỏi lều, nói nhận xét này với người hướng đạo của ông:

– Đã có một con lạc đà đi qua đây!

Một tia sáng lóe lên trong mắt người A-Rập.

– Ngài thấy con lạc đà chứ?

– Không.

– Ngài không đụng đến nó chứ?

– Không.

– Vậy thì ngài thật là người điên khi tin một con lạc đà mà ngài không nghe, không thấy, không ngửi.

– Ồ!- nhà thông thái đáp trả –nhưng người ta thấy rõ các dấu chân của nó trên cát.

Vào chính ngay lúc ấy, mặt trời mọc lên từ chân trời với tất cả các màu sắc rực rỡ của phương đông. Bằng một cử chỉ gọn gàng, người Ả-Rập đưa tay chỉ tinh thể rực sáng, rồi nói:

– Ngài đã thấy dấu vết của đấng tạo hóa, vậy ngài hãy tin vào Thiên Chúa đi.

2. Các nhà chiêm tinh trong bài Tin Mừng hôm nay đã để lại cho chúng một bài học rất quý giá. Bài học đó là các ngài đã đọc được dấu chỉ Thiên Chúa muốn nhắn gửi cho các ngài sự xuất hiện của một ngôi sao.

Cha hỏi chúng con đã có bao giờ chúng con được người ta nói về dấu chỉ chưa?

Từ “dấu chỉ” là từ rất quan trọng trong cuộc sống hôm nay.

Chúng con hãy tập cho quen nghe và hiểu từ này.

Đây là từ Công Đồng Vaticanô II dùng rất nhiều.

Theo Cha Chenu, từ “dấu chỉ thời đại” là một trong ba hoặc bốn từ quan trọng nhất của Công đồng Vatican II.

Đọc trong các bài viết của xã hội hôm nay cha thấy người ta cũng bắt đầu nói nhiều về từ này.

Cha thử tìm trên Google, chỉ trong vòng có 0,23 giây người đã có được 2.750.000 kết quả về “dấu chỉ thời đại Cứu thế”. Nói thế có nghĩa là việc nhận ra ý Chúa qua các dấu chỉ của thời đại rất là quan trọng. Không biết nhận ra ý Chúa qua các dấu chỉ Chúa dùng để dạy dỗ chúng ta quả là một thiếu sót không thể chấp nhận được.

Bởi thế cha mới nói các nhà chiêm tinh đã để lại cho chúng ta một bài học rất quan trọng đó là biết đọc ra những ý nghĩa của dấu chỉ Thiên Chúa muốn nhắn gửi cho các ngài sự xuất hiện của một ngôi sao.

Chính Chúa Giêsu cũng đã muốn cho mọi người biết nhìn qua các dấu chỉ mà nhận ra Ngài. Chắc chúng con còn nhớ câu chuyện của ông Gioan.

Câu chuyện như thế này: “Hồi ấy ông Gio-an lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? “ Đức Giê-su trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi”. (Lc 7,2-6).

“Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”. Đó chính là các dấu chỉ của thời đại Cứu Thế.

Chúng ta hãy tập cho biết nhận ra các dấu chỉ Chúa gửi đến cho chúng ta hằng ngày để thấy được những việc Chúa làm cho chúng ta. Có như thế chúng ta mới thấy cuộc đời của chúng ta hạnh phúc.

Một vị Giám mục kiểm tra khả năng của một nhóm ứng viên xin lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Ngài hỏi:

– Bằng vào dấu chỉ nào các người khác nhận ra các con là người Công giáo?

Không có tiếng trả lời. Rõ ràng không có ai ngờ một câu hỏi như thế. Vị Giám mục lập lại câu hỏi và ngài lập lại thêm một lần nữa, lần này ngài làm dấu thánh giá có ý mách nước cho các người dự tòng một câu trả lời đúng. Bất. chợt một ứng viên trả lời:

– Đó là “Tình yêu” .

Cha muốn kết thúc bài suy niệm hôm nay bằng câu chuyện nhỏ này: Đây là cảm nghĩ của một giáo viên: Trong một chuyến đến thăm ngôi trường khiếm thị duy nhất của thành phố, tôi chạnh lòng nhìn cảnh một số em quờ quạng với chiếc gậy trên tay, có em lại bám vào vai bạn và cả hai cùng lần bước. Còn đến khi vào lớp, các em lại cần mẫn dùng những ngón tay nhỏ bé gầy guộc để đọc từng dòng chữ Braille trên trang giấy nổi

Bất chợt, ánh mắt tôi dừng lại ở một em bé có đeo một mẫu ảnh thánh giá nho nhỏ trên ngực áo. Tiến lại gần, tôi làm quen với em và được biết. Em kể rằng: “Trước khi vào trường này, mẹ em đã đeo cây Thánh Giá này cho em và bảo: Đèn của thân thể người ta là đôi mắt, còn với con, thì Thánh Giá sẽ là cây đèn cho con đấy!”

Tôi ân cần hỏi em:

– Thế em có thấy vui không?

Em bé ngước nhìn lên với đôi mắt đục mờ, trả lời ngay:

– Có chứ anh, em đã mất đôi mắt của thân thể, nhưng thật sự thì đôi mắt của tâm hồn em vẫn sáng!

Nghe câu trả lời quả quyết ấy, tôi giật mình tự nhủ: con mắt của tâm hồn mình có còn sáng hay đã tắt ngấm rồi nhỉ?

Hôm nay chúng ta mừng lễ Thánh gia. Sở dĩ Giáo hội đặt lễ Thánh gia này ngay trong tuần bát nhật lễ Giáng sinh là vì Giáo hội muốn cho chúng ta ý thức được tính cách đặc biệt của vấn đề Gia đình nhất là trong hoàn cảnh hôm nay.

Nhìn vào gia đình thánh gia chúng ta tự hỏi gia đình của chúng ta có thể sống như thế được không ? Câu trả lời là được nếu chúng ta biết cố gắng. Vậy thì đâu là những yếu tố làm nên một gia đình giống như gia đình Thánh Gia ? Câu trả lời chẳng cần tìm đâu xa. Chúng ta hãy trở về với những chương đầu của sách Sáng Thế Ký chúng ta sẽ thấy.

1. Kính Thánh kể lại: Thuở ban đầu Thiên Chúa mới chỉ dựng nên có một người nam. Và Kinh Thánh mô tả cuộc sống đơn độc của Adam thật là thê thảm. Adam cảm thấy cô đơn và buồn chán. Chính Thiên Chúa khi nhìn vào, Người cũng phải thương cảm mà nói: “Voe soli! Thật khốn cho những kẻ cô đơn”. Và sau đó Thiên Chúa đã dựng nên cho Adam một người bạn đời. Đó là Evà, người phụ nữ đầu tiên. Khi nhìn thấy Evà, Adam đã vui như thế nào thì tất cả mọi người chúng ta đều biết. Từ sự những kiện đó chúng ta có thể rút ra yếu tố đầu tiên làm nền tảng cho một gia đình thánh đó là: “Gia đình là một cộng đoàn mà các thành phần trong đó luôn biết hướng về nhau”. KT đã diễn tả về việc này rất hay: “Người nam bỏ Cha mẹ mà luyến ái với người vợ của mình để cả hai trở nên một xương một thịt”

Để cắt nghĩa về việc con người luôn hướng về nhau, người Hy lạp đã sáng tác ra một câu chuyện và câu chuyện này đã trở thành một huyền thoại trong kho tàng những câu chuyện đáng nhớ của nhân loại. Theo câu chuyện này thì ban đầu con người duy nhất được TC dựng nên là một sinh vật mang hình dạng một khối tròn. Hình tròn là thường được coi như là một biểu tượng của sức mạnh – bằng chứng là các loại ống phải chịu lực mạnh thì người ta thường thiết kế theo dạng hình tròn. Vì sợ con người có sức mạnh như thế một ngày kia có thể chống lại mình cho nên thần Jupiter đã dùng gươm chẻ đôi con người ra. Việc này được thực hiện lúc thần không đủ bình tĩnh cho nên sự phân đôi con người không được đồng đều. Chính vì thế mà mỗi phân nửa của con người luôn cảm thấy mình có một cái gì đó dư thừa phải cho đi và cũng có một cái gì đó còn thiếu nên phải đi tìm. Chính vì thế mà cuộc đời của con người từ đó trở đi đã trở thành một cuộc tìm kiếm hầu như không biết mệt mỏi để cho đi cái dư thừa và tìm lại cái còn thiếu hầu có thể luôn giữ được thế quân bình của mình. Và cũng từ đó việc hướng về nhau để cùng nhau bảo vệ sự hợp nhất trong gia đình là một việc không thể thiếu nếu muốn gia đình còn là một tổ ấm yêu thương. Còn nếu không biết hướng về nhau nữa thì đó là dấu chỉ chắc chắn tiên báo cho một sự tan rã chẳng sớm thì muộn sẽ xảy ra và lúc đó thì gia đình sẽ không còn là gia đình nữa. Nó sẽ là gì thì tất cả chúng ta đều biết. Một thứ hoả ngục không hơn không kém.

2. Rồi cũng từ những trang đầu của sách STK, chúng ta còn thấy khi dựng nên người phụ nữ, Thiên Chúa đã không dựng nên theo cùng một cung cách như khi Người dựng nên người nam. Kinh Thánh bảo TC đã làm cho Adam thiếp ngủ đi rồi Người lấy một cái xương sườn của người nam và từ đó Người dựng nên người đàn bà để rồi vừa khi nhìn thấy người đàn bà Adam đã nhận ngay ra được dấu ấn của mình ở trong đó: Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”. Từ sự kiện này chúng ta lại có thể rút ra được một yếu tố khác nữa của một gia đình thánh thiện. Gia đình là một cộng đoàn tình yêu. Đây không phải là một thứ tình yêu ở ngoài, mà là thứ tình yêu nội tại ngay chính trong mỗi thành viên của gia đình. Thánh Gioan tông đồ quả quyết như sau: “Không ai ghét chính mình”. Yêu ai là yêu cái mình của mình nơi người khác.

Khi diễn tả về lý do tại sao Thiên Chúa lại yêu con người đến như thế thì các nhà tư tưởng của Ai cập đã viết lên một câu truyện thần thoại thật đẹp. Theo họ thì để làm nên con người Thiên Chúa đã xuống tận bờ sông Nilô, một con sông nổi tiếng là linh thiêng và đem lại nhiều trù phú nhất cho đất nước Ai cập để ở đó Người lấy bùn rồi tự tay nhào bùn đắp nên hình con người. Nhưng thật là không may cho Chúa là khi Người vừa thọc tay vào đất thì lại đúng vào hang của con cua. Tay của Người bị cua kẹp chảy máu ra. Các thiên thần sợ quá muốn băng bó cho Cha nhưng Người không cho mà nói:

– Hãy cứ để vậy. Cứ để cho máu của Ta chảy ra hòa với máu của con người để cho con người biết ta yêu nó như thế nào.

3. Cuối cùng cũng theo Kinh Thánh sau khi Adam và Evà đã được Thiên Chúa dựng nên, tác hợp hai người nên vợ nên chồng thành một gia đình thì Người đặt Adam – Eva giữa cảnh địa đàng và Kinh Thánh bảo cứ chiều chiều Thiên Chúa giáng lâm đồng hành và truyện trò với hai ông Bà. Thử hỏi còn gì đẹp hơn, tuyệt diệu hơn quang cảnh đó: Thiên Chúa đồng hành trò chuyện với con người. Từ những sự việc này chúng ta lại có thể rút ra một yếu tố nữa cho cuộc sống của một gia đình thánh. Gia đình là một cộng đoàn đạo đức. Sự đạo đức được đặt nền trên lòng kính sợ Thiên Chúa. Chúng ta đã quá biết con người chỉ đau khổ khi lìa xa Thiên Chúa. Khi không còn sống thân tình với Thiên Chúa thì lập tức khổ đau tràn vào. Nó cướp đi mọi niềm vui của cuộc sống và nó làm cho cuộc đời trở thành một bãi chiến trường. Chúng ta làm sao mà quên được cái cảnh Adam – Eva đổ lỗi cho nhau. Làm sao mà quên được cái cảnh Cain đang tâm giết đứa em ruột thịt của mình. Tất cả là vì họ đã lìa xa Chúa.

Thiếu nhi chúng con yêu quý,

Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng lễ Thánh Gia: Chúa Giêsu – Đức Mẹ và thánh Giuse.

Nhìn vào Gia đình Thánh Gia Nagiareth chúng con có thấy cái gì đặc biệt không ? Bên ngoài có lẽ chẳng có gì đặc biệt. Có một người làm chồng. Đó là Thánh Giuse. Có một người làm vợ đó là Đức Maria và cũng có một người làm con đó là Chúa Giêsu. Đúng là bên ngoài dường như không có gì đặc biệt nhưng nhìn thật kỹ thì thấy đây là một gia đình THÁNH. Lý do vì mọi thành viên trong gia đình này đều sống thật xuất sắc vai trò của mình trước mặt Thiên Chúa.1. Trước hết là Thánh Giuse. Thánh Giuse được Tin Mừng gọi là người công chính. Người công chính là người luôn chu toàn mọi lề luật của Chúa. Thánh Giuse là một người chồng và là một người cha tuyệt vời. Ngài là một người chồng thuỷ chung và cũng như một người cha hết lòng yêu thương chăm lo gia đình với một trách nhiệm cao độ. Tin Mừng cho chúng ta thấy thánh Giuse đã sống làm người có trách nhiệm của mình cao độ trong việc chăm lo cho cũng như bảo vệ cho gia đình trong những hoàn cảnh khó khăn như thế nào. Ước gì mỗi người hãy biết sống trách nhiệm với những việc mình làm để xã hội được luôn ổn định và cuộc sống có nhiều niềm vui hơn.

Chúng con hãy nghe câu chuyện này.

Vào một buổi tối, bốn sinh viên kéo nhau đi nhậu nhẹt thâu đêm mà chẳng lo chuẩn bị cho bài kiểm tra ngày mai. Sáng hôm sau, họ đã nghĩ ra một cách vô cùng “thông minh”.

Bốn người lấy dầu nhớt và bụi bẩn tự bôi hết lên quần áo, mặt mũi. Sau đó, họ đến gặp giáo sư và nói rằng đêm qua họ đi ăn cưới một người bạn, trên đường về, xe bị nổ lốp và bốn người họ phải cùng nhau… đẩy xe cho đến khi tìm được chỗ sửa. Thế nên, họ vừa bẩn thỉu lại mệt mỏi vì không được ngủ, không thể làm bài kiểm tra được.

Giáo sư quay lưng đi suy nghĩ một lúc rồi nói rằng họ có thể làm lại bài kiểm tra sau 3 ngày nữa. Họ cảm ơn ông và hứa rằng sẽ chuẩn bị sẵn sàng cho bài kiểm tra lần tới.

Đúng 3 ngày sau, họ đến gặp giáo sư như đã giao hẹn. Ông nói rằng vì đây là một bài kiểm tra đặc biệt nên cả bốn người họ phải làm bài kiểm tra trong bốn phòng riêng biệt. Tất cả đều đồng ý vì họ đã chuẩn bị rất kỹ trong 3 ngày vừa qua.

Bài kiểm tra chỉ có 2 câu hỏi với tổng điểm là 100:1. Họ tên: __________ (1 điểm)

2. Lốp xe nào bị nổ ? __________ (99 điểm)

a. Lốp trước bên trái

b. Lốp trước bên phải

c. Lốp sau bên trái

d. Lốp sau bên phải

Chúng con hiểu được hậu qua câu chuyện như thế nào rồi. Đúng làChạy trời không khỏi nắng” – Bởi vậy dám chịu trách nhiệm là một yếu tố quan trọng để trưởng thành và gây dựng thành công cho bản thân. Phần lớn những điều tốt đẹp có diễn ra trong đời bạn hay không, đa số đều đến từ sự tin tưởng.

2. Bây giờ cha nói về Đức Mẹ Maria.

Trong gia đình thì vai trò của người mẹ cũng hết sức đặc biệt.

Khi viết về người Mẹ một nhà văn Pháp đã có những lời diễn tả như thế này: Bà mẹ không phải như một họa sĩ vẽ cái đẹp lên tranh, không như một nhà điêu khắc chạm hình trong đá, không như nhà văn diễn đạt tư tưởng hay bằng những lời chọn lọc, cũng không như một nhạc sĩ ký thác tâm tình đẹp trong tiếng đàn. Phận sự của bà mẹ chính là nhờ ở sức Chúa giúp đỡ, hình thành nên trong linh hồn những người con hình ảnh của Chúa trên trời”. Chúa Giêsu với tư cách là một con người, chắc chắn Chúa đã chịu ảnh hưởng rất nhiều điều từ Mẹ Maria.

Như thử hỏi để làm được điều đó Đức Mẹ phải là người thế nào.

Chúng con hãy nghe câu chuyện cảm động này: Ông Comolet Sue, nhà giáo dục danh tiếng, đã điều tra và kể lại trong bản báo cáo về Hội Hôn nhân Thiên Chúa giáo ở Pháp câu chuyện này: Có lần ông gặp một bà mẹ góa. Các con bà giữ đạo sốt sắng và thành công một cách vinh quang trên đường đời. Ông hỏi bà: – Bà đã làm gì trong công việc giáo dục con cái bà ? Bà đã dìu dắt con bà một cách thực tế như thế nào trong cuộc đời ? Bà đã một mình làm tròn sự nghiệp phức tạp ấy!

Bà trả lời cách gọn gàng, giản dị: – Tôi không biết.

Ông gặng hỏi: – Bà giấu đấy chứ ? Các con trai bà đã làm cách nào để tạo được những địa vị danh giá mà đồng thời vẫn là tín đồ đáng nể phục ? Các con bà hình như rất bằng lòng với cuộc sống của mình. Có bao bà phải thất vọng không… ?

Bà mỉm cười và hỏi: – Ông có tin tưởng Thiên Chúa không ?

– Chắc là Thiên Chúa cai trị sóng gió, nhưng nếu bà không biết lo liệu thì thuyền cứ chìm.

– Lo liệu phòng ngừa là phải cầu nguyện cho nhiều.

– Không đủ, thưa bà. Bởi chắc không phải lúc nào bà cũng chắp tay quỳ gối trong nhà thờ ?

Bị hỏi dồn, bà nói thiệt: – Ngày chồng tôi chết, để lại cho tôi mười đứa con nhỏ, đứa lớn chưa đầy 15 tuổi. Tiền của eo hẹp, nên tôi phải quả quyết… Trước hết là… Là xét lại lương tâm, khi xét mình tôi đã nhận thấy cần phải tu chỉnh, cải tạo đời sống mình cho tốt hơn, thêm nhiều đức tính tốt hơn nữa. Tôi làm ngay… và cứ thế mà tiến…

– Có thế thôi sao ? Bà còn làm gì hơn nữa cho con bà ?

Không có gì khác cả, thưa ông. Tôi tự sửa mình và chính Chúa đã đào tạo chúng nó.

Ngạn ngữ của người Roma có câu: Không ai có thể cho cái mình không có”. Nếu Đức Mẹ không cố gắng trở nên thánh thiện thì làm sao có thể làm cho sự thánh thiện của mình tràn qua người con của mẹ là Chúa Giêsu được.

3. Cuối cùng là Chúa Giêsu.

Câu chuyện của Chúa Giêsu mới là câu chuyện cảm động. Tin Mừng nói về Chúa Giêsu như thế nào chúng con có biết không ? Đây chúng con nghe: Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài.(Lc 2,51).

Chúa Giêsu vâng phục Thánh Giuse và Đức Mẹ. Một Thiên Chúa vâng phục những con người.

Nếu nhìn và thứ tự quan trọng trong gia đình Thánh Giá chúng ta phải thấy: Chúa Giêsu là số 1

Đức Mẹ Maria là số 2 vì Đức Mẹ đã sinh ra Chúa Giêsu, sau cùng mới là thánh Giuse.

Thế nhưng trong thực tế thì lại hoàn toàn ngược lại. Thánh Giuse là số 1, Đức Mẹ là số 2 và Chúa Giêsu là số 3. Chúa cốt ý làm thế để nêu gương cho chúng ta.

Chúa muốn cho những người làm con phải biết vâng lời Cha mẹ mình.

Đức Hồng Y FX Nguyễn Văn Thuận đã để lại trong cuốn Đường Hy Vọng của ngài rất nhiều bài học về sự vâng lời.

Ngài nói: Chúa Cứu Thế đã cách mạng, muôn triệu người hưởng ứng, khẩu hiệu của Ngài: Vâng lời đến chết” (ĐHV 395).

“Vâng lời trọng hơn của lễ” vì của lễ là hoa quả, hương trầm, súc vật, tiền bạc v.v… Khi vâng lời, con lấy chính mình con làm của lễ, giết chết ý riêng con, tự ái của con làm của lễ toàn thiêu (ĐHV 406).

Và đây là câu chuyện Ngài kể lại. Câu chuyện có liên quan đến Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII.

Ngày Đức Roncalli (về sau là Giáo Hoàng Gioan XXIII) thụ phong Giám mục, ngài được vào yết kiến Đức Piô X để tạ ơn. Đức Giáo Hoàng hỏi:      – Con chọn khẩu hiệu nào ?

– Thưa “Vâng phục và bình an”.

– Tại sao con chọn khẩu hiệu đó ?

– Thưa Đức Thánh Cha, lúc con còn là học sinh, chiều nào con cũng thấy Hồng Y Daronius đã già cả đi qua công trường Thánh Phêrô. Mỗi lần như thế, ngài đều lấy một ít tiền tặng cho các người nghèo, đoạn vào thẳng đền thờ Thánh Phêrô, đến ngay trước tượng thánh nhân và hôn chân ngài, rồi gục đầu vào chân tượng, đọc thực lớn tiếng: Vâng phục và bình an”, ai ở gần đó đều có thể nghe được. Đọc xong, Hồng Y khả kính đó đến quỳ gối cầu nguyện trước mồ thánh Phêrô, tỏ lòng cung kính, vâng phục và trung thành với Hội Thánh rồi ra về. Hình ảnh cao đẹp và tiếng nói đanh thép ấy đã ghi sâu vào tâm trí con, nên con chọn câu nói ấy làm khẩu hiệu.

Nghe qua Đức Thánh Cha rất cảm động, hài lòng và đưa bàn tay chúc lành cho tân Giám mục Roncalli. Khẩu hiệu ấy đã được vị Giám mục thực hiện trong suốt cả đời ngài. Chúng con hãy biết vâng lời vì vâng lời sẽ làm cho chúng con nên giống Chúa Giêsu.